|
|

TUYẾT HƯ LÃO NHÂN TỊNH ÐỘ TUYỂN TẬP
(Tuyển
tập
những
bài viết
về
Tịnh
Ðộ
của
lão cư
sĩ Lý Bỉnh
Nam)
Trích dịch: Bửu Quang Tự đệ tử Như
Hòa
Hạ tải: 
MỤC
LỤC
Vi tính
và trình bày: Ban biên tập www.thondida.com
Cập nhật: Ngày 01 tháng 12 năm 2008 – Tại
Melbourne - Úc Châu
|
|
|
“Thật vì sanh tử, phát Bồ Đề,
Dùng tín nguyện sâu trì danh hiệu Phật”.
Triệt Ngộ đại sư
***
“Như Lai sở dĩ hưng xuất thế,
Duy thuyết Di Đà bổn nguyện hải”.
Thiện Đạo đại sư
***
“Được vãng sanh hay không
đều do Tín, Nguyện có hay không,
Phẩm vị cao hay thấp
đều do hành trì sâu hay cạn”.
Ngẫu Ích đại sư
***
“Chỉ duy trì danh mà chứng thiệt tướng,
Không cần quán tưởng cũng thấy Tây Phương!”.
Ấn Quang đại sư
***
“Trong đời mạt pháp, ức ức người tu hành, ít có kẻ
nào đắc đạo,
chỉ nương theo pháp môn Niệm Phật mà thoát luân hồi”.
Kinh Đại Tập
*** |
|
PHẦN THỨ HAI
PHẬT THẤT KHAI THỊ
I. KHAI THỊ TẠI PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM NHÂM TÝ
(đệ tử Ngô
Thông Long kính ghi)
-
KHAI THỊ LẦN THỨ NHẤT
Niệm Phật kết
thất tính đến nay đã là hai mươi ba năm rồi, những
liên hữu đã mất tính ra có đến một ngàn sáu trăm vị.
Có vị được vãng sanh, có vị chẳng vãng sanh. Số vãng
sanh chiếm thiểu số, phần nhiều là thuộc vào thời
gian mười năm trước, mười năm sau thật là ít ỏi. Sa
sút như thế, chẳng buốt lòng sao! Chuyện cũ lỡ rồi,
tương lai phải gắng, xin hãy bắt đầu từ hôm nay!
Niệm Phật để
được vãng sanh, để được giải thoát thực sự. Kết thất
là “khắc kỳ cầu chứng”, tức là trong thời gian định
kỳ cầu đạt được chứng cứ chứng tỏ mình sẽ vãng sanh
- chứng cứ ấy chính là “Nhất Tâm Bất Loạn”. Nhất Tâm
Bất Loạn chính là lẽ bí mật của kinh. Kết thất chẳng
được Nhất Tâm chính là đã để lỡ dịp. Làm thế nào để
đạt được? Có nhiều nhân để thành tựu, nhưng quan
trọng nhất chỉ có hai:
- Một là người
lập đạo tràng phải phụng hành đúng với giáo pháp.
- Hai là người
tu hành phải tu đúng như pháp.
Kế đó, lại
phải chân thành. Mọi pháp thế gian còn phải chân tâm
thật ý thì mới có hy vọng tựu về sau, huống hồ là
Phật pháp? Vì thế phải hết sức thành khẩn tu tập.
Nếu không thì chẳng những vô ích mà còn chiêu lấy
tội lỗi.
Ðả thất giống
như dựng tòa lầu lớn cao trăm thước. Muốn xây được
thì phải thực hiện ba giai đoạn công tác:
- Dọn sạch sẽ
cuộc đất mình định xây, dẹp bỏ các chướng ngại vật.
- Bồi đất đá
lên trên ấy.
- Xây móng
thật kiên cố rồi mới có thể xây lên từng tầng.
Ðả thất cũng
thế, đó chính là “kiến thiết tâm lý”, cũng có ba
tầng thi công:
- Ðem hết thảy
những chuyện nhân, ngã, thị phi khắp toàn thân bỏ
xuống hết, chẳng được dùng ngàn vạn tâm tình niệm
Phật. Trong vòng bảy ngày phải chú trọng buông bỏ
vạn duyên.
- Ðối với
những người dự Phật thất nhưng vẫn ngủ ở nhà thì
phải gắng sao thân tuy ở nhà, nhưng tâm thường ở
chùa Linh Sơn. Trên đường đi về, niệm niệm nghĩ đến
Phật.
- Một khi đến
đạo tràng, đừng trò chuyện, hàn huyên,
“ít nói
một câu chuyện, niệm nhiều một câu Phật, đánh chết
mỗi ý niệm, để Pháp Thân được sống”. Chỗ này đã
là đạo tràng thì hễ ngồi xuống liền bắt đầu niệm
Phật, chớ đừng có lên lên xuống xuống, ngồi đứng
chẳng yên, tự gây những chuyện phiền toái vặt vãnh,
phương hại người khác, tạo thành tội vạ lớn.
Ba điều như
thế, hãy siêng phụng hành!
Lại nói đến
phương pháp niệm Phật thì một câu Phật hiệu từ tâm
đề khởi, từ miệng niệm ra, nghe suốt vào tai, cần
phải phân minh. Lại còn phải ghi nhớ số (bất tất
dùng xâu chuỗi) từ một đến mười. Chỉ cần nghe được
rõ ràng là đã đạt công phu, tức là đã Nhất Tâm niệm
Phật đó vậy!
-
KHAI THỊ LẦN THỨ HAI
Phật thất khai
thị là nhằm làm cho hành giả giác ngộ, ắt phải tự
giác ngộ thì sau mới có hy vọng thành công. Bởi thế
điều thứ nhất là phải giác, giác như thế nào? Giác
tình thế hiện tại. Ngày hôm nay chúng ta phải giác
ngộ mình đang ở trong tình thế nào? Là giống như con
cá vậy. Có người nghe vậy liền bảo tôi biết rồi,
“cá” là giống như chữ “cá” trong bài kệ đọc lúc
chiều tối:
Thị nhật dĩ
quá, Mạng diệc
tùy giảm, Như thiểu
thủy ngư, Tư hữu hà
lạc?
Ngày hôm nay
đã qua, Mạng theo đó
cũng giảm, Khác nào cá
thiếu nước, Ðiều ấy có vui
chi? |
Nhưng chữ
“ngư” tôi nói ở đây không phải chỉ có nghĩa như vậy,
mà “ngư” đây là con cá đang nằm trong nồi, ở dưới để
sẵn củi. Tuy trong nồi có nước, tạm thời cá có thể
bơi qua bơi lại, tiêu dao tự tại, nhưng nguy hiểm
đến cùng cực, chỉ chờ lúc củi bén lửa thì phận cá sẽ
ra sao? Các vị nghĩ xem! Hoàn cảnh của chúng ta đây
giống hệt như thế đó: bị ác ma giam chặt trong chảo
dầu do chúng tạo, sớm tối sẽ bén lửa. Ðây chính cái
gọi là thời đại bom nguyên tử! Tuy bom nguyên tử là
do Mỹ, Nga tấn công nhau, nhưng ai dám bảo đảm Ðài
Loan chẳng bị lãnh họa. Dù chẳng bị nạn trực tiếp,
nhưng bị bụi bom nguyên tử nhiễm thân, chết nát ra
là chuyện tất nhiên! Chúng ta phải nên nhận biết
hoàn cảnh này, vị trí này.
Ðiều thứ hai
là phải sợ. Ðiều vừa nói trên chưa đáng sợ, điều
đáng sợ là nghiệp chưa tiêu nên phải lãnh chịu chẳng
ngừng. Thử hỏi: Thế giới này là ngũ trược ác thế, vì
sao quý vị sanh vào đây? Lại vì sao sanh nhằm thời
này? Ðều do nghiệp lực khiến thành như vậy; vì cộng
nghiệp, cộng cảm, cộng thọ vậy.
Ðã như vậy thì
đừng có oán trời, trách người. Người có công phu tốt
tự có biện pháp tốt. Do cộng thọ nên không tránh
khỏi chết, nhưng chết đi sanh về những nơi khác nhau
là do công phu sai khác, tức là lúc chết chính là
lúc vãng sanh. Nếu chúng ta đạt được Nhất Tâm thì
ngay hiện tại sẽ đạt được “cộng trung bất cộng” (dù
cùng cộng nghiệp mà chẳng phải cùng chịu khổ quả),
tương lai vãng sanh cũng ổn đáng. Nhưng nếu nay
chúng ta chưa làm được như vậy thì chết đi sẽ lại
hướng đến tam đồ, lục đạo! Ðấy chính là điều chúng
ta phải nên kinh sợ.
Ðiều thứ ba là
nên tiếc. Học Phật, niệm Phật đến nay đã là hai mươi
ba năm, nhưng trong số những người cùng tu vẫn chưa
có ai nắm vững. Tiếc thay! Tiếc thay! Cơ duyên trước
mắt một phen mất đi, khó thể có lại được. Ðừng nói
đời này chẳng tu đợi kiếp sau, bởi lẽ “thân người
khó được”. Ví dù được làm thân người, nhưng “Phật
pháp khó nghe”, chưa chắc đã được nghe Phật pháp. Ví
dù được nghe Phật pháp, chưa chắc được nghe pháp môn
Tịnh Ðộ. Ví dù được nghe pháp môn Tịnh Ðộ, chưa chắc
có thể kết thất như ngày hôm nay. Thử nghĩ xem: đạo
tràng của chúng ta giảng kinh như thế, khai thị như
thế, mỗi năm kết thất mà vẫn chưa thành thì huống hồ
gì là kiếp sau?
Vả lại, người
ta được thành tựu hay không là do căn khí. Người đời
có thể chia thành hai loại là ngu si và thông minh.
- Kẻ ngu tuy
được khai thị, nhưng nghe rồi tâm chẳng tiến triển,
không hề giác ngộ. Vì sao đến nỗi như thế? Do ba độc
trong tâm đầy dẫy, độc phát ra ngoài nên hiện tướng
như thế. Hạng người này ngã kiến rất nặng, thường
khởi phiền não, khó độ được! Nhưng bọn họ đời này
tạo ác hơi ít, đấy là điểm sở trường của họ.
- Hạng thông
minh đời này tạo ác tuy lớn, nhưng dễ giác ngộ, nếu
gặp được thiện tri thức uốn nắn sẽ mau biến chuyển,
dễ độ!
Thứ hai là đều
do nghiệp lực đời trước tạo thành như thế. Nghiệp
lực vô biên nên ngay trong thời Ðức Phật, vẫn có kẻ
Ngài chẳng độ được. Vì thế mới nói “phước chí tâm
linh”, nghe pháp rồi tấn tu quả là kẻ có phước vậy!
Thế nhưng Phật
pháp vô biên, đối với mỗi căn khí đều có phương tiện.
Tổ sư Ngẫu Ích đã dạy cho kẻ ngu pháp “sám hối hồi
hướng”. Với hết thảy những sự nơi thân, khẩu, ý, hễ
lành thì hồi hướng Tây Phương, hễ ác thì sám hối
ngay lập tức. Ngay cả việc lành sám hối đó cũng đem
hồi hướng Tây Phương. Kẻ si chẳng thể phân biệt
thiện ác thì cứ nhất loạt sám hối, nhất loạt hồi
hướng. Tâm quyết định như thế thì niệm niệm tại Tây
Phương, lực dụng rất lớn. Cách thực hiện như sau:
1) Sau hai
khóa lễ sáng tối liền sám hối, hồi hướng.
2) Thường ngày
hễ gặp cảnh trái ngang, lăng nhục, khốn khổ liền lập
tức sám hối, hồi hướng. Bởi đấy là do túc nghiệp tạo
thành như thế cho nên phải sám hối nghiệp nặng.
3) Lúc tâm
khởi ác niệm, phiền não bèn lập tức sám hối. Do
nghiệp lực nên phiền não thường khởi, đừng đổ lên
người khác. Nếu không, hậu báo vô cùng vậy. Bởi lẽ,
những chuyện ngang trái v.v... là do nghiệp lực,
chịu xong liền hết. Nếu lại khởi phiền não gieo vạ
cho người khác thì sẽ xoay vần báo trả nhau, chính
là mình tự hại mình vậy!
Ba thứ sám hối
hồi hướng như thế chính là pháp môn mất nhiều năm
tôi mới cầu được, nay tặng cho quý vị. Quý vị hãy
thực hành, đừng khinh là tầm thường. Tổ Ngẫu Ích bảo
sám hối, hồi hướng lại thêm niệm Phật thì không ai
là chẳng thành cả!
Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một câu tiêu trừ được trọng tội
trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Trong hai mươi
năm qua, quý vị không một ai niệm được như vậy. Chí
tâm là lúc niệm Phật trước hết phải dọn tâm cho thật
sạch sẽ, rỗng rỗng rang rang thì ngay khi ấy, một
câu Phật hiệu thông trên suốt dưới, không còn gì
khác cả. Niệm chí tâm như thế thì mới hòng đạt được
“Nhất Tâm Bất Loạn”. Quý vị niệm Phật hãy nên theo
nguyên tắc này, nhưng làm thế nào để chí tâm? Xin
đáp: “Tội từ tâm khởi dùng tâm sám”. Do còn
tội nghiệp nên tâm khởi phiền não. Lúc tâm khởi
phiền não thì sẽ tạo tội nghiệp. Ngay lúc ấy phải
sám hối cho nó tiêu mất. “Tâm đã diệt rồi tội
cũng không”. Do còn tội nghiệp nên chẳng thể chí
tâm. Tội nghiệp đã diệt sẽ tự nhiên chí tâm. Bởi thế
bảo: “Tội diệt, tâm mất thảy đều không, thế mới
gọi là chân sám hối”. Niệm Phật như thế thì đạt
được chí tâm, diệt được trọng tội, dù bom nguyên tử
có rơi xuống cũng chẳng ngại gì. Kệ rằng:
Tâm nhất
phân minh đoạn hoặc thì, Vãng sanh
chứng quả thượng hà nghi, Tuy nhiên
thường thuyết hoặc nan đoạn,
Sám hối
huyền môn tích bất tri.
Tâm đã phân
minh đoạn hoặc rồi, Vãng sanh
chứng quả há nào sai, Tuy thường hay
bảo Hoặc khó đoạn, Sám hối huyền
môn tiếc chẳng hay. |
Nếu niệm đến
Nhất Tâm Bất Loạn thì chính là lúc đoạn Hoặc. Như
vậy ắt được vãng sanh, vãng sanh rồi ắt mau chứng
Phật quả. Lý thật phân minh, còn nghi ngờ gì nữa?
Tuy nói là đoạn Hoặc rất khó, đoạn một phẩm Kiến Tư
Hoặc như cắt đứt dòng sông chảy mạnh rộng đến bốn
mươi dặm, nhưng vẫn có pháp môn mầu nhiệm chính là
sám hối hồi hướng. Ðấy chính là huyền môn. Tiếc rằng
người đời chẳng biết. Niệm Phật mà biết phối hợp với
pháp môn này thì sẽ thành tựu dễ dàng!
Trang 13
|
|
II. KHAI THỊ TẠI PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM GIÁP
DẦN
(đệ tử Hà
Mỹ Tuyết kính ghi)
1.
KHAI THỊ LẦN THỨ NHẤT
Thưa các vị
lão sư, các vị đồng tu,
Từ khi Linh
Sơn tự có Phật thất đến nay đã là hai mươi lăm năm,
có thể duy trì lâu dài liên tục, chẳng gián đoạn như
thế thật chẳng phải là chuyện dễ. Phật thất mỗi năm,
học nhân (lời cụ Lý Bỉnh Nam tự xưng) đều đến tham
gia, chẳng dám bảo là khai thị, mà chỉ là đem phương
pháp niệm Phật và yếu nghĩa của nó sách tấn, khuyên
lơn các vị mà thôi.
Trong hai mươi
lăm năm, những điều cần nói đã nói qua cả rồi. Gần
đây học nhân bận rộn lắm việc, trong thời gian tổ
chức Phật thất, chỉ có thể đến hai lần. Những điều
nói ra đều là những câu lấy trong kinh, hoặc từ ngữ
lục của chư Tổ Sư. Học nhân vô học vô đức, ngoài
những lời kinh, lời Tổ dạy thì không còn gì để nói,
những điều muốn nói cũng phát xuất từ khuôn phép của
tiền nhân. Những điều tôi nói trong quá khứ, chưa
chắc quý vị đã nhớ hết, hoặc đã quên sạch, nên hôm
nay nhắc lại thì cũng như mới nói.
Lần này học
nhân thay đổi phương thức, in dàn bài tặng quý vị
tham khảo. Bởi vì xem dàn bài nghe giảng, ấn tượng
càng khắc sâu, dễ hiểu rõ trọn vẹn, nghe xong có thể
đem về nghiên cứu kỹ càng. Nếu như quý vị nhờ đó mà
đạt được cảnh giới tốt thì cố nhiên là rất tốt. Nếu
như thấy không tiến bộ gì thì xem đọc lại nhiều lần,
cốt sao đúng pháp thực hành, lâu ngày chầy tháng
nhất định sẽ được lợi ích.
Chúng ta tu
pháp môn Tịnh Ðộ mục đích là tương lai chứng đắc
Phật quả. Tu các pháp môn khác mà muốn chứng Phật
quả thì phải trải qua ba đại A Tăng Kỳ kiếp; trong
trăm vạn người khó có một người thành tựu. Phật Quả
tuy tốt, nhưng ai có thể chứng được? Trong pháp môn
Tịnh Ðộ thì chỉ cần tại thế giới Sa Bà này, trong
vòng mấy mươi năm ngắn ngủi, một câu A Di Ðà Phật
niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn thì liền được vãng sanh.
Sau khi vãng sanh, trong một thời gian ngắn thành
địa vị bổ xứ Bồ Tát, thành Phật rất dễ. Vì vậy, pháp
môn này dễ tu, đáng gọi là “độ khắp ba căn, gồm thâu
lợi, độn”. Thượng căn được lợi mà bọn độn căn chúng
ta cũng có thể được lợi. Ai ai cũng tu được, đều có
thể thành tựu.
Hễ ai tu Tịnh
Ðộ đều biết những câu “vạn nhân tu vạn nhân khứ”
(vạn người tu, vạn người vãng sanh), “đới
nghiệp vãng sanh”, “Nhất Tâm Bất Loạn”, nhưng
mọi người đều chẳng muốn hiểu kỹ ba câu này. Tôi đã
từng giảng qua, nhưng ai nấy đều hiểu lầm ý nghĩa
của chúng, vẫn chưa thể hiểu sâu, hiểu đúng, hiểu tỉ
mỉ, cho nên chưa thể thành công được.
Mấy năm gần
đây, thấy công phu các vị thụt lùi lớn. Nhớ năm năm
đầu lúc mới mở Phật thất ở Ðài Trung còn khá, chứ
năm năm sau đó đã kém hẳn, năm năm kế tiếp đó càng
tệ hơn nữa. Công phu đã chẳng tiến, trái lại còn lui
sụt. Ðã thế niệm Phật đều chẳng phấn khởi tinh thần.
Ðây là lời thực, học nhân đến đây chỉ mong quý vị
đạt được lợi ích chân thật. Bởi thế, chẳng thể khen
ngợi quý vị được. Tâng bốc quý vị thì chẳng những
chẳng được vãng sanh mà trái lại còn làm hại mọi
người. Nay đem ý nghĩa chân thật của ba câu ấy nói
ra, quý vị sẽ liền biết rõ công phu của mình như thế
nào.
* Vạn tu vạn
nhân khứ
Ðây chính là
lời của Tổ Sư, hoàn toàn chẳng sai lầm, dưới đây sẽ
nêu bốn điều để chân chánh giảng pháp, khiến cho quý
vị chẳng còn hiểu lầm ý nghĩa câu này nữa.
a.
Tu phải nhận thức rõ Chánh Trợ Song Tu
Tu tức là
chiếu theo pháp môn Tịnh Ðộ mà tu, phải nhận thức rõ
Chánh Trợ Song Tu. Chánh tức là công phu căn bản,
chỉ niệm sáu chữ hồng danh
“Nam mô A Di Ðà Phật”.
Ðây là công phu chánh, ai cũng biết niệm. Chẳng học
Phật cũng biết niệm, nhưng không hiểu nghĩa. Nay tôi
giải thích đại lược:
1) Một câu
“Nam mô A Di Ðà Phật” là Pháp Giới Tạng Thân, bao
gồm cả thập phương tam thế chư Phật.
2) Một câu
“Nam mô A Di Ðà Phật” bao trùm cả mười hai bộ loại
kinh điển trong Tam Tạng, tức là chữ
“A”
đã bao gồm
toàn bộ giáo pháp của Tam Tạng.
3) Sáu chữ
hồng danh là vua của các chú, sáu chữ “Nam mô A Di
Ðà Phật” là chữ bí mật, chẳng phiên dịch. Cả sáu chữ
đều chẳng phải là tiếng Tàu. Pháp này cao tột, thù
thắng hơn trì tụng bất cứ chú ngữ nào khác.
4) Học Phật
phải tu Ðịnh. “Hoa Nghiêm đại định” chính là Di Ðà
đại định. Nhất Tâm Bất Loạn chính là định, đạt được
Nhất Tâm là thành công. Ðấy chính là chỗ mầu nhiệm
của pháp môn Tịnh Ðộ.
Hai mươi năm
trước đây, ngoại trừ những lúc có Phật thất, mỗi Chủ
Nhật, học nhân đều đến đây giảng kinh, phần lớn các
kinh đã giảng qua, nhưng học nhân thường nói: Giảng
kinh chẳng thể liễu thoát sanh tử, chỉ là để kết
duyên nhằm khiến chúng sanh hiểu rõ ý kinh, cải biến
tâm lý, thực tiễn tu hành. Dù cho có giảng kinh trăm
năm, hằng ngày giảng kinh cũng chẳng thể liễu sanh
tử. Chẳng bằng kẻ chẳng hiểu giáo lý nhưng biết niệm
sáu chữ hồng danh, niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn thì
được lợi ích rất lớn.
Niệm Phật là
công phu chánh, có thể hiển lộ bổn tánh Chân Như.
Niệm đến Nhất Tâm thì tâm minh, tánh hiển, đấy là
thành công. Nếu chỉ đàm huyền luận diệu thì tu bao
nhiêu năm cũng chẳng thể giải ngộ tâm tánh. Xin quý
vị nghe kỹ: Sáu chữ hồng danh “Nam mô A Di Ðà Phật”
chính là bổn tánh của quý vị, bổn tánh chính là tâm
của quý vị.
Thiền Tông chê
Tịnh Tông rằng: “Ngu nhân cầu Phật bất cầu tâm,
trí nhân cầu tâm bất cầu Phật” (kẻ ngu cầu Phật
chẳng cầu tâm, người trí cầu tâm chẳng cầu Phật).
Quý vị cầu tâm hay cầu Phật? Nếu cầu Phật thì là
người ngu vì chẳng biết tâm quý vị chính là Phật,
Phật chính là tâm quý vị. Tâm và Phật vốn là một, vì
vô minh ngăn che nên Phật là Phật, tâm là tâm, tâm
và Phật bị chia thành hai, đều là do quý vị tạo ra.
Nay quý vị niệm Phật chính là hiển lộ bổn tánh của
mình: “Mười phương tam thế Phật, cùng chung một
Pháp Thân”. Phật quá khứ có Pháp Thân, Phật vị
lai cũng có Pháp Thân. Phật vị lai chính là chúng ta.
Pháp thân của chúng ta với Pháp thân của Phật Thích
Ca, Phật Di Ðà là một không phải hai. Niệm Phật là
khai hiển bản tánh, là công phu chánh. Quý vị tu
không thành công pháp môn này thì có thể nói đoan
chắc là quý vị tu các pháp môn khác cũng không thể
thành tựu được. Nếu bỏ pháp môn này mà quý vị có thể
thành tựu được thì tôi chính là kẻ đại vọng ngữ, sẽ
đọa địa ngục.
Tu chính là vì
tâm tánh của chúng ta bị vô minh ngăn che. Vô minh
chẳng dễ nhận biết. Nói cách khác, vô minh chính là
những hành vi giết, trộm, dâm, tham, sân, si v.v...
hằng ngày của chúng ta. Tu chính là trừ khử những vô
minh ấy, chẳng tạo nghiệp giết, trộm, dâm, chẳng
khởi tham, sân, si, khiến cho bổn tánh tỏ lộ quang
minh, đó tức là Tu.
Nhưng ai có
thể biết được đạo lý này? Ai chịu thực hành? Mọi
người vừa niệm Phật vừa nhiễm vô minh thì làm sao
minh tâm kiến tánh cho được? Vì thế phải dùng trợ
lực để tiêu trừ giết, trộm, dâm, tham, sân, si. Trợ
tu như thế nào? Tuy chẳng hiểu rõ Phật lý, nhưng cốt
sao có thể phân biệt thiện ác, hiểu rõ hai câu sau
đây là được: Hễ là điều gì bại hoại thì đừng làm, đó
chính là “chư ác mạc tác”. Nhẫn chưa được thì cắn
chặt răng đừng làm. Làm việc lành, dù lúc ban đầu
chỉ miễn cưỡng làm. Ðấy chính là “chúng thiện phụng
hành”. Hành thiện dứt ác, giữ tâm lành, nói lời hay,
làm việc tốt, đấy chính là phương pháp hỗ trợ công
phu chánh, trừ khử vô minh. Vì thế gọi là “trợ
hạnh”.
Nói rộng ra,
trợ hạnh là tu sáu Ba La Mật, nhưng khó hiểu, nên
chẳng cần phải nói đến. Phàm là điều ác thì dù có
tặng quý vị khối kim cương nặng mười vạn bảng
(pounds), quý vị cũng chẳng chịu làm. Ðối với việc
lành thì dù phải chịu trở ngại nào cũng cứ làm. Hai
điều này chính là “tùy duyên tiêu cựu nghiệp,
cánh bất tạo tân ương” (tùy duyên tiêu nghiệp
cũ, chẳng tạo họa mới nữa). Lúc bình thường gặp
thiện thì làm, gặp ác thì bỏ. Khi niệm Phật thì
buông bỏ vạn duyên, một ác niệm vừa khởi lên thì
liền dùng ngay một câu “Nam mô A Di Ðà Phật” để áp
chế nó. Thâu tóm ba nghiệp thân, khẩu, ý, theo
đó mà hành lâu ngày sẽ được thành công. Vì thế bảo
là “vạn nhân tu, vạn nhân khứ”.
b. Bất chiếu
tu bất năng khứ (chẳng tu đúng theo đó thì chẳng
được vãng sanh)
Tuy là “vạn
nhân tu, vạn nhân khứ”, nhưng nếu chẳng tu đúng thì
chẳng thể vãng sanh được. Ai cũng biết có Phật, có
Ma. Ma chính là tham, sân, si, giết, trộm, dâm. Niệm
một câu A Di Ðà Phật là Phật lực khởi. Khởi tham,
sân, si, giết, trộm dâm là Ma lực khởi. Ma lực và
Phật lực ngang nhau. Phật, ma đấu nhau gọi là
“đạo cao một thước, ma cao một trượng”. Phật hay
Ma đều là tâm của quý vị. Niệm Phật vẫn tạo nghiệp,
khởi tham, sân, si, Phật và Ma hỗn tạp, tâm sao
thanh tịnh được, sao sanh Tịnh Ðộ được? Sao có thể
minh tâm kiến tánh cho được? Ðã niệm Phật lại còn
niệm Ma thì chẳng phải là tu vậy. Nếu chẳng mau sửa
đổi cõi lòng, chẳng trừ khử tham, sân, si, thì dù có
niệm đến tám vạn bốn ngàn đại kiếp cũng chẳng được
vãng sanh. Ðây là lời chân thật. Vì thế quý vị phải
mau thay đổi tâm mình.
c. Thiểu
tu công bất thành tựu (công tu ít thì chẳng thành
tựu)
Ngay
lúc này đây, quý vị chẳng khởi tham, sân, si, không
giết, trộm, dâm v.v... rất tốt, nhưng một khi bước
ra khỏi cửa này, xong Phật thất là quên ngay. Ở đây
niệm Phật dăm ba ngày là chuyện hay, tiếc là quá ít.
Kinh Di Ðà dạy: “Chẳng thể dùng chút thiện căn,
phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi ấy”.
Thiện căn tức là công phu chánh, phước đức chính là
trợ duyên. Tu ít thì chẳng thể thành tựu, vì vậy cần
phải tu nhiều.
d. Ða tu thị
thường bất đoạn (tu nhiều là thường tu chẳng gián
đoạn)
“Tu nhiều” là
tu thường, luôn luôn tu chẳng gián đoạn. “Thường” là
vĩnh viễn như thế, “bất đoạn” là thời thời, khắc
khắc nghĩ đến chẳng gián đoạn. Xong Phật thất rồi,
tâm vẫn chẳng biến đổi, chẳng khởi những tâm giết,
trộm, dâm, tham, sân, si, hại người... Dù là nông,
công, thương, công chức, bác sĩ ai nấy cứ giữ nghề
mình, chẳng trở ngại chi đến tâm quý vị cả. Ngoài xã
hội, học nhân suốt ngày làm việc, trong hai mươi lăm
năm, lo liệu đạo tràng tuy bị nhạo báng cũng chẳng
tranh biện với ai. Ðây chính là hành Nhẫn Ðộ trong
Lục Ðộ. Người ta mắng chửi cũng chẳng sanh lòng
giận. Huống nữa, lửa vô minh nổi dậy, rừng công đức
sẽ cháy tiêu. Xin nghĩ xem: Sân tâm nổi lên, người
khác chẳng suy xuyển gì, trái lại mình lại bị hại.
Vì thế, học nhẫn nhục chính là để đạt đại tiện nghi
vậy.
Tổ sư nói:
“Tu đạo chẳng ngại lo liệu công việc, cốt sao chẳng
tổn người thì làm nghề gì cũng được”, đều là vì
tu hành nhưng phải lo kiếm sống, nương vào Tục để tu
Chân. Nếu không như thế thì công phu chẳng thành,
chẳng thể vãng sanh. Thân người khó được, nay đã
được thân người, nay quý vị tu hành chính là cơ hội
để liễu sanh tử. Nếu không liễu sanh tử thì tu hành
ích chi?
“Bất đoạn” tức
là trong từng thời, khắc chẳng quên. Ta chưa đạt
được “tịnh niệm liên tục” nói trong chương
Ðại Thế
Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông, nhưng cứ tiếp tục
tu chẳng gián đoạn. Tâm chẳng đoạn thì sẽ làm được
chuyện ấy. Niệm chẳng phải là miệng niệm xuông mà
phải chú tâm vào đó, tức là tâm đặt nơi Tây Phương,
tâm hướng về Phật. Phải có ý niệm bất đoạn như thế
mới được. Hết thảy hành động đều vì sanh về Tây mà
làm, không gì là không làm như thế. Cho nên ăn cơm,
mặc áo là để sanh về Tây, mưu sanh nuôi thân là để
sanh về Tây, đều vì tu hành, biến cải tâm lý mới
nên. Như học nhân làm việc công, dạy học, lại vì
những học sinh sáng dạ tuyên dương Phật pháp. Vì thế
học nhân nhận tiền công, chẳng nhận tiền của thương
thiên hại lý, nên chẳng trở ngại gì đến việc tu
hành.
“Thường” là
bất biến, sống trăm năm cũng chẳng thay đổi. “Bất
đoạn” là thời thời, khắc khắc nghĩ đến gì thì chú
tâm vào đó. Tâm đặt nơi Phật thì tâm chính là Phật.
Nếu tâm chẳng đặt nơi Phật thì tâm liền biến thành
Ma, thành bại hoại vậy.
Hôm nay, học
nhân đến đây bàn về pháp môn Tịnh Ðộ là nói chuyện
gì? Nói chuyện Chánh Trợ Song Tu. Quý vị niệm Phật
chính là Chánh Công Phu. Học nhân đến giảng là giúp
quý vị hiểu đạo, đó là Trợ Công Phu. Vì thế, với bất
cứ việc gì tâm cũng đặt tại Chánh Trợ Song Tu là
được.
Từ trên đến
đây toàn là nói về câu “vạn nhân tu vạn nhân khứ,
bất tu bất năng khứ”. Những câu khác ngày mai sẽ
bàn.
Này quý vị!
Buông
xuống vạn duyên, đề khởi chánh niệm.
Một câu
Di Ðà, thẳng đường mà niệm.
2.
KHAI THỊ LẦN THỨ HAI
Thưa các vị
lão sư, các vị đồng tu,
Hôm nay là đã
là ngày thứ sáu của Phật thất. Xin mọi người tinh
tấn, rạng ngày nghe giảng giải, chiều tối càng dụng
công khẩn mật.
Phật thất là
để cầu Nhất Tâm. Theo đúng lệ, khi giảng khai thị
thì chẳng giảng kinh, chẳng thuyết pháp, chỉ xem
trong đạo tràng có điều gì tu hành chẳng đúng pháp
thì đối trị căn bệnh đó, ứng cơ mà nói, chứ nếu
không thì thành ra làm rối thêm.
Lần này đặc
biệt cải biến phương thức đã dùng nhiều năm, in dàn
bài giảng giải, chứ lần sau chẳng làm vậy. “Vạn nhân
tu vạn nhân khứ”, “đới nghiệp vãng sanh”, “Nhất Tâm
Bất Loạn” là ba điều mọi người dễ hiểu lầm nhất.
Trong quá khứ, đối với những điều này, tôi chỉ lược
giảng dăm ba câu. Người chân chánh dụng công để cầu
Nhất Tâm phải nên hiểu rõ một cách xác thực. Ðài
Trung học Phật đã hai mươi lăm năm, bây giờ lười
nhác, đúng là:
Ðầu nhất
niên, Phật tại tiền,
Ðệ nhị
niên, Phật tại Tây Thiên,
Ðệ tam
niên, Phật hóa vi vân yên.
Năm đầu,
Phật hiện diện trước mặt,
Năm kế, Phật
ở Tây Thiên,
Năm thứ ba,
Phật hóa thành mây, khói.
|
Kinh Phật
cũng nói Bồ Tát mới phát tâm khác nào bậc Ðẳng Giác,
tiếc thay vài năm liền lui sụt. Vì thế, người phát
tâm tu thì nhiều, kẻ thành tựu lại ít. Phải đâu Phật
pháp không linh, mà là vì mọi người chẳng tin, chẳng
thể kiên trì triệt để. Cứ hễ kiên trì mà tu thì đối
với bất cứ một câu Phật pháp nào cũng đều thành tựu
được hết, chẳng cần phải đọc Tam Tạng. Do chúng sanh
vô lượng, tâm tư vô lượng, nên mới có Tam Tạng kinh
điển, để đối ứng căn cơ của chúng sanh mà nói.
Ngày hôm qua
đã nói về câu đầu tiên là “vạn nhân tu, vạn nhân
khứ”. Hôm nay nói về câu thứ hai “đới nghiệp
vãng sanh”. Phàm ai tu Tịnh Ðộ cũng biết nói câu
này.
Tu các pháp
môn khác, cần phải đoạn Kiến Tư Hoặc mới có thể liễu
sanh tử, xuất tam giới; nhưng đa số chẳng biết Kiến
Tư Hoặc là cái gì. Bởi thế, người thành công khá
hiếm. Lại còn có lối nói “nghiệp tận tình không”.
“Tình không” chính là tình thức hoàn toàn biến thành
trí huệ, thấu rõ bổn tánh. Mức độ “nghiệp tận tình
không” thấp nhất là chứng quả A La Hán, hiện tại có
mấy ai làm được?
* Ðới
nghiệp vãng sanh
Câu “đới
nghiệp vãng sanh” là chỉ người tu Tịnh Ðộ mà nói;
đối với các pháp môn khác nếu đới nghiệp thì tuyệt
đối chẳng thể giải thoát, chẳng thể liễu sanh tử.
Nhưng đa phần người tu Tịnh Ðộ hiểu lầm là dù còn
tạo tội nghiệp vẫn có thể vãng sanh, vẫn có thể
thành tựu. Do nói như vậy nên trong mười người tu,
tám chín người chẳng thành công được.
Trong hai mươi lăm năm tại Ðài Trung, có hơn hai
ngàn vị đồng tu đã qua đời, nhưng lúc mất có lưu lại
tướng vãng sanh để chứng nghiệm thì chẳng nhiều hơn
mười người. Sao lại đáng buồn đến thế ấy?
Ý nghĩa chân
thực của việc “đới nghiệp vãng sanh” là như sau:
a. Nghiệp
là túc nghiệp thiện ác
Nghiệp là
những tội nghiệp đã tạo. Phải biết là ai cũng do
thân, khẩu, tạo mười ác nghiệp, nhưng chẳng phải là
gây tạo trong đời này, mà là từ trong bao kiếp lâu
xa luân hồi trong lục đạo đã tạo vô lượng, vô biên
tội nghiệp. Kinh nói: “Nếu tội nghiệp có hình thể
sẽ sớm chật cả hư không”. Tạo tội thì phải đền
trả trong lục đạo. Tội cũ chưa xong, đã gây nghiệp
mới, làm sao giải thoát được? Vì thế trong ngàn vạn
người, không một ai được giải thoát.
Hoặc bảo:
“Niệm Phật một tiếng tiêu trọng tội trong tám mươi
ức kiếp sanh tử”. Ai ai cũng nghĩ là niệm Phật
tiêu tội. Ðiều này không sai, nhưng “Ðạo cao một
thước, Ma cao một trượng”. Sức Ma lớn là vì ma
sự nhiều. Chúng sanh từ bao kiếp lâu xa đến nay toàn
làm ma sự, bây giờ chỉ niệm Phật dăm ba năm thì làm
sao tiêu được? “Ma cao” là ma nghiệp nhiều. Niệm
Phật tiêu nghiệp là như lửa nung chảy băng. Ví như
khối băng to như cái bàn, đốt ngọn lửa nhỏ như đầu
nén hương thì lửa ít, băng nhiều, làm sao tan băng
được? Vì thế người tu hành mới thấy sức ma lớn lao,
Phật lực không linh; bởi thế lắm kẻ thoái chuyển.
Nhưng nếu chẳng tu hành thì một phân đạo cũng không
có. Chúng ta có được một phân, một tấc đạo là đã
chẳng uổng rồi!
b. Ðoạn
Hoặc giải thoát theo cách thông thường
Ngoại trừ
Phật pháp không có biện pháp nào khác để thoát khỏi
luân hồi. Các tôn giáo khác đều cho rằng Thượng Ðế
là chí cao vô thượng, nhưng Thượng Ðế vẫn còn ở
trong luân hồi lục đạo. Mục tiêu của nhà Phật là
thoát luân hồi. Làm thế nào để thoát? Phải “nghiệp
tận tình không”, nghiệp trong nhiều kiếp lẫn nghiệp
hiện tại phải nhất loạt tiêu sạch. Ðời này không
tiêu hết thì gắng tiêu trong ngàn kiếp, vạn kiếp.
Thành bậc A La Hán còn phải sanh tử trong nhân gian
hay cõi trời bảy lần mới đoạn hết Kiến Tư Hoặc, liễu
sanh tử, nhưng vẫn còn Trần Sa Hoặc chưa đoạn. Ðủ
thấy đoạn Kiến Tư Hoặc khó khăn. Ví như có vạn phẩm
Hoặc, dù đoạn được chín ngàn chín trăm chín mươi
chín phẩm, vẫn còn một phẩm chưa đoạn thì cũng chưa
giải thoát. Học nhân học Phật hơn năm mươi năm, một
phẩm còn chưa đoạn được, biết làm sao đây?
c. Ðới
nghiệp là chế phục nghiệp hoặc chẳng cho chúng khởi
dậy
Học nhân tu
hành, giảng kinh năm mươi năm, gặp được vài vị minh
sư, đối với học lý cũng biết được một hai phần,
nhưng một phẩm Hoặc cũng chưa đoạn được. Quý vị tu
hành chưa lâu, Hoặc là thứ gì còn chưa biết rành thì
đoạn Hoặc sao được? Khác nào mài đao chẳng biết đao
như thế nào thì mài sao được?
Chúng ta chưa
đoạn được Hoặc thì chẳng thể giải thoát. Vì thế đức
Thích Ca Mâu Ni đại từ, đại bi nói ra pháp môn Tịnh
Ðộ, dạy chúng sanh niệm A Di Ðà Phật, chẳng cần phải
đoạn Hoặc, chỉ cần chế ngự được Hoặc liền có thể
giải thoát.
Ðoạn Hoặc và
Phục Hoặc (chế ngự Hoặc) khác nhau như thế nào? Ðoạn
Hoặc giống như trong chén đã thanh tịnh, vô nhiễm,
dù có nghiêng đi cũng chẳng đổ cát bụi ra. Phục Hoặc
giống như trong chén có cát bụi, dùng vật khác đậy
lên, có nghiêng chén cũng chẳng đổ bụi ra, nhưng cát
bụi vẫn còn chứa bên trong. Nghiệp tận chẳng bị luân
hồi, tu Tịnh phục Hoặc thì cũng chẳng lọt trong lục
đạo.
Nhưng Hoặc
vẫn còn thì phải làm sao? Luôn luôn dùng sáu chữ
hồng danh đè nén chúng, lâu ngày thuần thục, đến lúc
mạng chung, nếu khởi tâm niệm Phật thì các tạp niệm
bị chế phục chẳng khởi lên nên có thể mang theo
nghiệp đi vãng sanh (đới nghiệp vãng sanh). Sanh qua
cõi kia rồi mới đoạn Hoặc, chỉ mấy ngày là thành
công. Ðấy là Phục Hoặc.
d.
Phục Hoặc thì tâm và Phật
giao cảm với nhau
Chỉ cần chế
phục Hoặc sẽ chẳng tạo nghiệp nữa, nên sẽ cảm ứng
đạo giao cùng Phật. Ðấy chính là ý nghĩa chân thực
của “đới nghiệp vãng sanh”, tuyệt đối chẳng phải là
vừa niệm Phật, vừa tạo tội vẫn được vãng sanh!
* NHẤT TÂM BẤT
LOẠN
Ðây là điều
dùng để chứng minh công phu, nay tôi sẽ giải thích
sơ lược.
1. Ðắc Nhất
Tâm thì quyết định thành tựu
Ðắc Nhất Tâm
nhất định thành tựu, vì chính là đắc đại định.
2. Nhất định
phải theo thứ tự tiến tu
Nhất định
chẳng thể vừa tu liền thành ngay, phải tấn tu từng
bước một, như châu gieo xuống nước, lần lượt chìm
dần.
3.
Muốn thành công thì phải tu tập dần dần mới
thành tựu trọn vẹn được
Muốn thành
công thì phải tu dần dần thì mới có thể viên dung.
Hằng ngày ở nhà phải luyện Nhất Tâm thì đến đây mới
hòng luyện được Nhất Tâm. Nếu không thì dù có nhập
thất hơn ba trăm ngày tâm vẫn loạn, dự một kỳ Phật
thất ngắn ngủi này làm sao đạt được Nhất Tâm? Ðấy
chẳng phải là cầu may, may ra được Nhất Tâm hay sao?
Hãy nên tự hỏi mình, đừng hỏi ai khác.
4. Thành tựu
Nhất Tâm chính là ác niệm chẳng khởi
Nếu đắc Nhất
Tâm thì giết, trộm, dâm, tham, sân, si chẳng khởi.
Nên biết rằng ác khởi chính là ma. Tâm chúng ta dù
khởi ác, nhưng nếu chế phục chúng chẳng cho phát tác
thì liền có thể thành công.
Kệ rằng:
“Nhất niệm
độc tâm sanh”:
“Ðộc” chính là ác niệm. Khởi ác niệm thì làm việc
hại người.
Nếu độc tâm
vừa sanh thì hãy “gấp dùng một câu Phật hiệu”
đàn áp, mau mau dùng “Nam mô A Di Ðà Phật” để trấn
áp. Ðấy chính là “phục hoặc”.
“Ác ngôn
bất xuất khẩu”:
Lời hại người, bốn nghiệp miệng chẳng để xảy ra.
“Tổn nhân
sự mạc tác”
(việc hại người đừng làm): phàm là những việc tổn
hại người hoàn toàn chẳng làm, cắn chặt răng, bất
luận là tự mình phải chịu khổ sở, thiếu hụt đến đâu,
giữ mình chẳng tạo ác. Chẳng tạo chính là “phục”.
“Cửu cửu
tự thành nhiên”
(lâu ngày ắt sẽ thành tự nhiên): Làm như vậy chẳng
khó lắm ư? Lúc ban đầu tuy khó, nhưng lâu dần quen
đi sẽ thành tự nhiên.
“Vãng sanh
khả đới nghiệp”:
Do chế ngự được Hoặc, lại có thể niệm Phật nên liền
có thể mang nghiệp đi vãng sanh.
“Thị danh
phục hoặc pháp, chân thật bí mật quyết”
(Ðây gọi là yếu quyết chân thật bí mật của pháp chế
phục hoặc): Ðây chính là yếu quyết chân thật, bí
mật. Nếu có thể thực hành theo đó thì nhất định được
vãng sanh.
Này quý vị!
Hãy buông
xuống vạn duyên, đề khởi chánh niệm.
Một câu Di
Ðà, thẳng thừng mà niệm.
|
* Bài kệ của
Tuyết Sư lão nhân:
Nhất niệm
tâm sanh độc,
Cấp áp
nhất Phật thanh,
Ác ngôn
bất xuất khẩu,
Tổn nhân
sự mạc tác,
Cửu cửu tự
thành nhiên,
Vãng sanh
khả đới nghiệp,
Thị danh
phục hoặc pháp,
Chân thật
bí mật quyết
|
Tạm dịch:
Một niệm độc
tâm khởi,
Phật hiệu đè
gấp ngay,
Lời ác trọn
chẳng thốt,
Việc tổn
người chớ làm,
Lâu ngày trở
thành thói,
Ðược đới
nghiệp vãng sanh,
Ðây bí quyết
chân thật,
Bí mật để
phục hoặc.
|
Trang 14
|
|
III.
KHAI THỊ TRONG DỊP KẾT THẤT NIỆM PHẬT ÐẦU XUÂN GIÁP
NGỌ
(đệ tử Du
Nhược Thu kính ghi)
Tại gia kết
thất niệm Phật chính là cách tiện lợi nhất trong các
phương tiện Phật thất niệm Phật. Nhưng muốn niệm
Phật được lợi ích lớn thì lại cần phải hiểu rõ đạo
lý. Nếu chẳng hiểu rõ đạo ý thì dù có được lợi ích
cũng chẳng lớn lao gì. Bởi lẽ, đối với hai nghiệp
thân khẩu thì miệng niệm Phật, thân ngồi trong đạo
tràng, ít ra cũng chẳng tạo nghiệp; nhưng vì tâm
chẳng dễ nắm bắt nên vẫn khó tránh khỏi tạo nghiệp.
Do vì tâm là
Lý. Lý chẳng rõ thì chính là phàm phu mê hoặc điên
đảo. Phải hiểu Lý ấy như thế nào? Phàm học Phật thì
bất luận là mười năm hay một trăm năm cũng chẳng
ngoài hai chữ “phước, huệ”. Kinh dạy: “Chẳng thể
dùng chút thiện căn, phước đức nhân duyên để được
sanh về cõi ấy”. Kẻ mới học Phật quá nửa chú
trọng tu Phước, người tu lâu hay chú trọng tu Huệ.
Kỳ thật, Phước Huệ là một khối, chẳng thể tách thành
hai điều riêng rẽ. Nay tôi giải thích lý này, chứ
chẳng dám nói là Khai Thị, lại xin quý vị nghe kỹ;
nghe xong rồi nghiên cứu kỹ càng.
Chư vị đồng
tu nghĩ xem niệm Phật là để làm gì? Chẳng ngoài hiện
tại tiêu trừ tai nạn, tương lai được vãng sanh Tây
Phương. Tiêu tai khỏi nạn chính là tu Phước. Vãng
sanh Tây Phương chính là tu Huệ. Nếu hiện tại chẳng
thể tiêu tai, khỏi nạn thì là chưa có phước. Hiện
tại đã chẳng thể tiêu tai khỏi nạn thì tương lai rất
khó bảo đảm được vãng sanh. Chẳng thể vãng sanh Tây
Phương chính là không có Huệ, là vì chưa đắc Nhất
Tâm. Lẽ này quá bình thường, cũng rất dễ hiểu rõ.
Chư vị đồng
tu nghĩ xem phải làm sao để hiện tại tiêu tai khỏi
nạn? Nói chung, xét ra là chẳng thể làm được là vì
quá khứ đã tạo nghiệp, ắt phải chịu báo, muốn khỏi
thọ báo thì đừng tạo nghiệp. Nghiệp quá khứ đã tạo
vô phương cứu vãn, chỉ còn cách từ nay trở đi phải
thay đổi tấm lòng, đem tâm biến thành “A Di Ðà Phật”,
nghĩ tưởng thanh tịnh, chẳng tạo nghiệp nữa.
Trong số quý
vị đây, ắt có người nghĩ mình niệm Phật đã lâu nhưng
sao chẳng đắc lực. Ðấy là vì thời gian ta niệm Phật
hiện tại rất ngắn, mà nghiệp đã tạo từ vô thỉ đến
nay lại rất nhiều. Trong kinh dạy: “Nếu ác nghiệp
có hình tướng thì trọn cõi hư không cũng chẳng thể
chứa hết nổi”. Ví như một gian nhà lớn bốc cháy
đùng đùng, toan cầm một chén nước tạt vào mong dập
tắt lửa thì đấy là chuyện bất khả. Chỉ có cả xe nước
lớn của xe chữa lửa, lại liên tục phun thêm nước
vào, khiến cho lửa chẳng lan rộng thêm thì mới có
thể dập được lửa.
Lửa đó ví như
vô minh, phiền não, nước như cam lồ Phật pháp. Nước
diệt được lửa là ví cho Phật pháp có khả năng đối
trị phiền não. Nhưng muốn diệt được phiền não nhiều
đời, nhiều kiếp thì chỉ có nhất tâm niệm Phật mới
đắc lực. Kinh dạy: “Chí thành niệm Phật một tiếng
diệt được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”.
Quý vị đồng tu phải nghiến răng quyết từ nay trở đi
đừng làm các điều ác, giống như chẳng đến bên đống
lửa lớn bỏ thêm các chất đốt như củi, than, dầu hỏa
v.v... Lại càng thêm khẩn mật dụng công niệm Phật,
giống như đem từng xe, từng xe nước đến dập lửa.
Nhưng dập tắt lửa chẳng cần phải dập hoàn toàn, chỉ
cần dập tắt chừng bảy phần, ba phần lửa sót lại do
vì có hơi nước hiện diện cũng dần dần giảm yếu. Cuối
cùng rồi cũng tắt hết. Quý vị đồng tu cứ làm theo
đúng như thế thì chẳng lâu sau, tự mình cũng có thể
niệm Phật đến chỗ đắc lực được.
Bây giờ, tôi
giảng vì sao Phước và Huệ là một khối chặt chẽ? Bổn
tánh vốn thanh tịnh, quang minh, nhưng do vô minh
che lấp nên quang minh chẳng xuất hiện được, khác
nào tấm gương bị bụi lấp nên chẳng soi tỏ được. Hiện
tại tu Phước giống như dùng khăn lau chùi gương. Chỉ
cần bụi rớt đi thì ánh sáng sẽ tỏa ra. Vì thế, tu
Phước chính là tu Huệ. Các tông khác minh tâm kiến
tánh, chứng quả A La Hán rồi mới có thể liễu sanh
thoát tử. Niệm Phật thì niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn
bèn thoát khỏi tam đồ lục đạo.
Hôm nay, tôi
toàn giảng về Niệm Phật, toàn là những chuyện bình
thường, rất dễ thực hành, còn việc đàm huyền luận
diệu thì hãy tạm chẳng nói đến bởi các vị đồng tu
khi nghe giảng kinh đã từng nghe qua rồi. Hiện tại,
tôi chuyên giảng phương pháp dụng công tu tập. Phật
pháp có mười tông phái lớn, nhưng chỉ có pháp Niệm
Phật của Tịnh Ðộ Tông là hữu dụng. Pháp Niệm Phật
của các tông khác chưa rốt ráo nên vẫn chưa hữu
dụng. Như có ba cách cứu hỏa, chẳng dùng nước cũng
có thể diệt được lửa. Nếu lúc cứu hỏa không có nước
thì có thể dùng một cái móc lớn kéo sập cả căn nhà.
Nóc đổ, tường đổ cũng diệt được lửa. Ðiều này ví như
các tông khác chẳng nhờ vào Phật lực cũng có thể
liễu sanh tử. Còn cách chữa lửa của Tịnh Ðộ tông là
trước hết khiến cho thế lửa chẳng mạnh thêm, rồi mới
đem từng xe nước dập lửa. Ðây chính là ngoài Tự Lực
còn có thêm Phật lực. Trong các pháp môn, pháp môn
Nhị Lực này đặc biệt nhất.
Pháp môn này
đã trọng yếu như thế thì phải niệm cách nào? Có hai
phương pháp niệm Phật: một là niệm Phật, hai là nhớ
Phật (ức Phật).
Niệm là niệm
ở đâu thì chú tâm tại đó, tức là khi niệm Phật thì
tâm đặt nơi Phật, tâm chính là Phật. Chẳng hạn lúc
chúng ta niệm Phật hai thời sáng tối thì niệm do tâm
khởi, tiếng từ miệng thoát ra lại lọt vào tai, tâm
nhớ lấy. Ba nghiệp thân, khẩu, ý cùng hợp lại niệm.
Kinh dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”.
Lúc niệm cốt
cho tinh chứ không cầu nhiều. Tổ sư nói: “Chỉ cần
niệm được 108 câu chẳng loạn. Nếu có một câu niệm
sai lạc liền lần chuỗi niệm lại từ đầu”. Niệm
được 108 câu Phật hiệu từng câu phân minh, nhớ rõ
chẳng lầm lạc mới tốt. So với niệm cả ngàn câu, vạn
câu mà tâm tán loạn thì lợi ích (của việc niệm Phật
chẳng tán loạn) phải lớn hơn. Quý vị đồng tu đừng
coi thường 108 câu đó. Nếu quả thực quý vị có thể
niệm được 100, 200 câu chẳng loạn thì công phu đã
chẳng uổng phí rồi. Chỉ e chẳng có mấy người niệm
được đến cả ngàn câu mà chẳng loạn. Ðây là lời chân
thật!
Khi niệm
Phật phải buông xuống vạn duyên, chẳng luận
là niệm bốn chữ, sáu chữ, đều phải đặt chắc toàn tâm
toàn ý vào câu Phật hiệu.
Giả sử bốn bề cháy to, vẫn cứ niệm Phật như thế
chẳng gián đoạn, chẳng loạn. Niệm Phật phải có sức
mạnh như thế, tâm luôn thường hằng như thế thì mới
thành tựu được.
Nhưng người
tại gia khác với hàng xuất gia. Từ sáng đến tối đều
phải làm lụng, bởi đối với người xuất gia thì củi,
gạo, dầu, muối... đều chẳng quản đến; nhưng người
tại gia có các nghề nghiệp: sĩ, nông, công thương,
nghiệp để mưu cầu sự sống. Vì thế, người tụng niệm
một ngày ba thời, năm thời không nhiều. Người một
ngày có thể niệm Phật đến 3 tiếng đồng hồ chẳng hiếm
lắm, nhưng hai mươi mốt giờ kia đều tán loạn, tạo
nghiệp. Ðại đa số khóa sáng niệm nhiều, khóa tối
niệm ít, hoặc khóa sáng niệm ít, khóa tối niệm nhiều.
Công phu niệm Phật như vậy khác gì nửa chén nước,
làm sao cứu hỏa được. Nhưng đức Phật có pháp phương
tiện, đó là “ức Phật”.
Ức là nhớ rõ
chẳng quên. Ði, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn cơm đều
chẳng hề quên. Dẫu cho vào chỗ nhà xí dơ bẩn nhất,
trong tâm vẫn phải có Phật, nhớ cho thật rõ ràng,
rành rẽ. Quý vị nghĩ xem có việc gì mà khiến mình
dính vào thì đều quên tuốt mọi thứ không? Ðó là việc
gì vậy? Chính là “ăn”. Chim vì tham ăn mà bị bắt
nhốt vào lồng, cũi. Cá do ham mồi nên mắc câu. Có
thể nói là hết thảy chúng sanh đang sống bị chết đi
đều là vì cái ăn. Chúng ta mỗi ngày làm lụng cực
nhọc phi thường, chịu đựng mọi thứ nhục nhằn, oan
uổng, khổ sở, gian nan cũng đều là vì cái ăn. Có lúc
bụng mình chẳng đói nhưng đến bữa cứ ăn. Nếu niệm
Phật cũng giống như ăn vậy thì tự nhiên sẽ thành
công.
Trang 15
|
|
IV.
KHAI THỊ TẠI PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM MẬU NGỌ
(đệ tử Ngô
Thông Mẫn kính ghi)
Hôm nay là
ngày kết thất thứ nhất. Việc đầu tiên là phải hiểu ý
nghĩa của việc kết thất chính là “khắc kỳ cầu chứng”.
Tu pháp môn Niệm Phật của Tịnh Ðộ thì phải đạt Nhất
Tâm Bất Loạn mới có thành tựu. Kết thất niệm Phật
bảy ngày, nếu khéo công phu thì niệm một ngày liền
đắc Nhất Tâm. Muốn được vậy phải tu nhiều năm, phải
là người hiểu giáo lý mới có thể làm được. Thứ đến
là hai, ba, bốn, năm, sáu ngày chẳng nhất định. Tiếp
đó là phải niệm đến ngày thứ bảy mới chứng Nhất Tâm.
Ðấy là nói về những người thanh tịnh cả bảy ngày,
ngày đêm niệm Phật không ngừng, trong bảy ngày liền
đoạn được Kiến Tư Hoặc. Chỉ có người đoạn được Kiến
Tư Hoặc mới là người thực sự đắc Nhất Tâm.
Nhưng đoạn
được Kiến Tư Hoặc rất khó, vì thế có một phương pháp
đặc biệt: trước hết chỉ cầu chế ngự được Hoặc mà
thôi. Nghĩa là lúc Hoặc khởi dậy thì liền dùng Phật
hiệu chế phục nó. Công phu luyện đến thuần thục thì
hễ Hoặc khởi liền chế ngự được. Ðược vậy thì cũng
gần giống như đắc Nhất Tâm, cũng có thể đới nghiệp
vãng sanh.
Các tông tu
hành chẳng ngoài việc “chánh trợ song tu”. Chánh
công phu là trừ khử vọng niệm, thấu triệt tâm tánh;
trợ công phu là công phu giúp hiển lộ tâm tánh, trừ
khử những ma chướng phát sanh bởi dụng công. Nay tôi
theo thứ tự nói sơ lược những pháp tu Chánh và Trợ
của Tịnh Ðộ.
Trước hết nói
về Chánh Công Phu. Trong vòng bảy ngày, lúc nào cũng
phải giữ lòng cung kính. Một phen bước vào cửa chùa
thì cũng như vào gặp Phật. Pháp thân của Như Lai ở
khắp mọi nơi, chẳng phải chỉ mình tượng Phật trên
đại điện mới xem là Phật, mà thật ra một sắc, một
hương không thứ nào chẳng phải là diệu sắc, diệu tâm
của Phật. Ðối với mỗi hoàn cảnh, nơi chốn như thế
đều xem như là Phật thì ngôn hạnh tự nhiên cung kính,
chẳng còn lười nhác nữa. Cung kính chính là bí quyết
để hướng đến Bồ Ðề. Ðây là tầng công phu thứ nhất.
Khi đã ngồi
yên rồi thì phải buông xuống vạn duyên, quét sạch
mọi vọng niệm tạp sự thường ngày. Sau đấy mới gom
tâm về một chỗ, buộc tâm nơi câu hồng danh. Giống
như nơi dòng nước chảy xiết phải buộc chặt thuyền bè
vào cột thì mới khỏi bị nước cuốn. Ðây là tầng công
phu thứ hai.
Kế đó, trong
khi trì danh, phải giữ sao cho sáu chữ hồng danh từ
tâm tưởng khởi, từ miệng phát ra, nghe lọt vào tai,
ví như ba cái bánh xe xoay vần qua lại, cốt sao tâm
tưởng thật trong sáng, rõ ràng, miệng niệm được rõ
ràng, tách bạch, tai nghe rõ ràng, rành mạch. Tự
niệm, tự nghe như thế, từng chữ dựa chặt vào nhau,
trong khi niệm đừng đánh mất một câu nào. Ðây là
tầng công phu thứ ba.
Thêm nữa, lúc
chúng ta niệm Phật, chẳng luận là miệng tụng hay ý
trì, hãy nên giữ cho không có tạp âm, chỉ còn mỗi
mình tiếng niệm Phật. Do A Di Ðà Pháp Thân ở khắp
mọi nơi, Phật quang cũng chiếu thấu khắp nơi. Vì thế
lúc niệm Phật, từ nơi ta phát ra tâm thanh (âm thanh
phát xuất từ tâm), tâm thanh hòa nhập vào Phật
quang, Phật quang lại nhập vào tâm thanh. Tâm thanh
và Phật quang dung thông như thế thì ta chính là Di
Ðà, Di Ðà chính là ta. Ðây là tầng công phu thứ tư.
Theo đúng
những điều vừa nói ở trên, tinh tấn tu tập từng
tầng, khiến cho chỗ chín biến thành chỗ sống, chỗ
sống chuyển thành chỗ chín. Ðến khi đạt đến tầng thứ
tư thì chính là ngày thành tựu Nhất Tâm vậy.
Tiếp đến nói
về Trợ Công Phu. Chánh Công Phu cố nhiên là thẳng
chóng, ổn thỏa, thích đáng, nhưng chúng sanh từ vô
thỉ kiếp đến nay quen thói phiền não đã sâu, vọng
niệm tơi bời; nay muốn dùng một câu Phật hiệu đè nén
chúng cho khỏi tạo nghiệp, không còn vọng tưởng, thì
tuyệt đối chẳng thể thực hiện được điều đó trong một
thời gian ngắn. Vì thế, phải dùng Trợ Hạnh để giúp
sức.
Nếu có thể
hằng ngày tự cảnh tỉnh, quan sát lỗi ác của chính
mình, thành tâm sám hối, mong tiêu nghiệp chướng,
thấy người khác làm lành liền tùy hỷ, tán thán để
tăng phước đức; tùy hỷ, sám hối như thế đều hồi
hướng vãng sanh Tây Phương thì đấy chính là Trợ Hạnh
thứ nhất.
Tiếp đến là
pháp Hân Yểm (ưa thích và nhàm chán). Trong các sanh
hoạt thường nhật, chẳng luận là ăn, mặc, đi, đứng,
đối với mọi thứ trong cõi Sa Bà đều nhất loạt coi là
ô uế mà chán lìa. Ðối với các thứ trang nghiêm được
diễn tả trong ba kinh Tịnh Ðộ đều tưởng là thanh
tịnh, sanh lòng ưa thích. Chán lìa thì không tâm
tham luyến. Vui mừng, hâm mộ thì tự tăng thêm ý
nguyện cầu sanh. Ðến khi hân yểm cùng cực thì thân
tuy ngụ Sa Bà, nhưng chẳng còn là khách trọ lâu ngày
trong cõi Sa Bà nữa; tuy chưa chứng Cực Lạc, nhưng
đã sớm là người thường trú chốn Liên Bang. Ðây chính
là yếu quyết mầu nhiệm của Tịnh Tông, chẳng thể nói
là giống như những lời lẽ “bất hân bất yểm” của các
tông khác. Ðây chính là Trợ Hạnh thứ hai.
Thêm nữa, về
pháp phương tiện để chế ngự Hoặc, nên biết rằng niệm
Phật chẳng được Nhất Tâm là do vọng niệm làm loạn.
Nhưng vọng niệm chính là Hoặc, mà cũng chính là Ma.
Kinh Niết Bàn dạy: “Tu Ðà Hoàn đoạn Kiến Hoặc như
cắt đứt dòng sông chảy mạnh rộng bốn mươi dặm”.
Vì thế muốn đoạn ngay được Hoặc thật chẳng dễ dàng.
Nay có cách tạm cầu chế ngự được Hoặc. Cổ đức bảo:
“Bất phạ niệm khởi, đản khủng giác trì”
(chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm). Nếu cứ hễ ý
niệm khởi liền có thể nhận biết, biết rồi liền dùng
Phật hiệu chế ngự nó. Ma đến, Phật chế ngự như thế,
ví như dùng đá đè cỏ. Ðè lâu ngày, Hoặc chẳng thể tự
khởi, cũng được “phương tiện Nhất Tâm”, đợi đến khi
sanh về Tây Phương rồi sẽ lại đoạn Hoặc. Ðây chính
là pháp đặc biệt của Tịnh Ðộ, chẳng thể dùng lý lẽ
của các tông khác để cật vấn được. Ðây chính là Trợ
Hạnh thứ ba.
Hy vọng mọi
người bảy ngày sau đây, vô luận là đang ở trong đạo
tràng hoặc đang trên đường về nhà đều tu như thế.
Tiếp theo đây tôi dùng một bài kệ để kết luận:
Tịnh Ðộ
nan tín khước dị hành,
Toàn do
nhị lực chánh trợ công
Tất đắc
Nhất Tâm phương hữu hiệu,
Phương tiện phục hoặc tức cảm thông
(Tịnh
Ðộ khó tin nhưng dễ hành,
Toàn do hai lực, chánh và trợ,
Phải đắc Nhất Tâm mới hữu hiệu,
Phương tiện chế Hoặc liền cảm thông) |
Sau cùng xin mọi người
buông xuống vạn duyên,
thẳng thét mà niệm một câu A Di Ðà Phật!
Trang 16
|
|
V.
KHAI THỊ PHẬT THẤT TẠI CHÙA LINH SƠN NĂM MẬU NGỌ (lần
thứ nhất)
(Tư
Thục Ðiền Kế Nghiêm kính ghi, đệ tử Ngô Bích Hà
giảo chánh)
Thưa chư
vị lão sư, chư vị đồng tu,
Hôm nay
là ngày kết thất thứ nhất. Riêng tại Ðài Trung,
sau khi quang phục
(1),
bắt đầu kết thất tại chùa Linh Sơn, tính đến nay
kết thất cũng gần được ba mươi năm rồi. Nói đến
việc mở Phật thất suốt ba mươi năm chưa hề gián
đoạn thì thật là điều rất khó có được, hoàn toàn
là do nhân duyên. Hôm nay tôi xem thấy những bạn
đồng tu trong đạo tràng này, đồng tu cũ cũng có,
đồng tu mới cũng có, giảng nói càng khó hơn,
biết làm sao đây? Nếu giảng sâu thì bạn đồng tu
mới nghe sẽ chẳng hiểu. Nói sơ lược ư? Lại sợ
bạn cựu tu đã nghe qua nhiều lần rồi. Vì thế,
tôi chọn lấy những điều trọng yếu mà trình bày.
Trước hết
luận về kết thất. Kết thất chú trọng nơi thực
hành niệm Phật, hoàn toàn chẳng phải là để giảng
kinh, giảng giáo lý. Trước hết, phải hiểu rõ như
thế! Ðã là để nghiên cứu thực tu thì nói càng ít
càng tốt, nên tôi bèn chuyên giảng “làm thế nào
để đạt được Nhất Tâm”. Ngoại trừ điều này ra,
chỉ nói in ít, nói nhiều càng thêm phiền. Gây
phiền thêm để làm gì? Mọi người đến đây để cầu
Nhất Tâm, nghe tôi thuyết pháp nhiều thì tâm
càng loạn. Xin quý vị hiểu cho điều này.
Trước hết,
dùng mấy lời như vậy để minh định rõ ràng. Hôm
nay là ngày đầu tiên, trước hết, cần phải tu
hành đúng như pháp. Tu hành pháp môn nào cũng
phải có biện pháp của pháp môn đó, phải dựa vào
những biện pháp do Phật, Tổ đã dạy chúng ta. Nếu
như tự mình suy diễn những cách tu không dựa vào
Phật pháp, hoặc dùng những phương pháp tu của
các pháp môn khác để tu thì là sai lầm vậy. Mỗi
một pháp môn có cách tu riêng của nó.
“Trở
về nguồn không hai đường”,
thế nào là không hai đường? Nói chung là để minh
tâm kiến tánh, pháp nào chẳng thể minh tâm kiến
tánh thì chẳng tu. Do có nhiều môn phương tiện
nên phương pháp cũng chẳng đồng nhất. Chẳng hạn
như trong nhà Phật có rất nhiều tông phái, nhưng
trong hai phái tối trọng yếu thì một là Thiền.
Thiền chú trọng vào Không, thường quán Không, hễ
ngộ được một chữ Không thì rất tốt. Nhưng Tịnh
Ðộ tông chẳng giống vậy. Tịnh Ðộ Tông chú trọng
quán Hữu. Có phải là hai tông này mâu thuẫn nhau
không? Kỳ thật chẳng hề mâu thuẫn nhau dù chỉ
một điểm. Ðiều này có giáo lý đấy, nhưng hôm nay
tôi chẳng giảng giáo lý, chỉ giảng những gì quý
vị có thể dựa theo đó mà tu cho tốt. Nếu muốn
hiểu kỹ về mặt giáo lý thì chúng tôi có giảng
kinh tại thư viện hoặc liên xã, chứ chẳng phải
chỉ giảng kinh ở một chỗ, quý vị có thể đến đó
nghe.
Ở đây tôi
chỉ chuyên giảng sao cho quý vị đạt được Nhất
Tâm, để bảy ngày kết thất này của quý vị không
bị uổng phí. Trong kỳ kết thất này, nếu chẳng
đắc Nhất Tâm thì uổng công rồi. Quý vị phải biết
là trước tiên phải nhớ kỹ những lời giảng trong
ngày thứ nhất, mấy ngày sau đó quý vị nghe người
khai thị nói gì cứ thực hành theo đó là ổn.
Ở đây
chúng ta tu Tịnh Ðộ, kết thất niệm Phật bảy
ngày. Niệm Phật bảy ngày để làm gì? Người khéo
công phu niệm một ngày liền đạt Nhất Tâm. Chẳng
phải là người hằng ngày luôn niệm Phật thì hôm
nay đến đây niệm Phật một ngày không cách chi
đắc Nhất Tâm được! Phải là người đã tu hành ít
nhiều năm, hiểu rõ giáo lý rồi, chỉ vì một mình
người ấy tu trì chẳng thể đắc Nhất Tâm, đến đây
tham dự Phật thất mới có thể đắc Nhất Tâm. Nếu
công phu chưa khéo thì từ một ngày đến bảy ngày
chi đó bèn đắc Nhất Tâm. Ðây là nói về hạng
người nào? Là hạng người tinh tấn suốt bảy ngày,
chứ chẳng giống như bọn mình, mỗi ngày niệm vài
cây hương là thôi. Họ niệm ngày đêm không nghỉ
nên bảy ngày liền đắc Nhất Tâm.
Nói cho
quý vị nghe điều thật tuyệt diệu này: Ðạt Nhất
Tâm chính là đã đoạn được Kiến Tư Hoặc trong
vòng bảy ngày. Ðiều này trong kinh không giảng
rõ vì sợ quý vị tự tổn hại mình. Ðoạn hết Kiến
Tư Hoặc thì đạt được Nhất Tâm, chẳng đoạn được
Kiến Tư Hoặc thì không thể đắc Nhất Tâm. Là vì
nếu Hoặc chưa đoạn thì chúng vẫn còn khuấy loạn
trong tâm, quý vị đạt Nhất Tâm sao được? Bởi vậy
mới bảo: Nếu công phu chẳng tận sức thì dù có
niệm cả trăm năm cũng chẳng được Nhất Tâm! Nếu
thế thì biết làm cách nào đây?
Tịnh Ðộ
tông có một phương pháp đặc biệt là chế phục
Hoặc. “Chế phục Hoặc” nghĩa là mỗi khi vọng niệm
khởi lên, bèn dùng A Di Ðà Phật đè nén vọng niệm,
hễ vọng niệm khởi bèn dùng niệm Phật đối trị.
Cách này rất đơn giản, chỉ cần niệm thuần thục
là làm được. Nhưng trong cả ngàn người, khó kiếm
được một người niệm thuần thục. Ðại đa số, hễ
một vọng niệm khởi thì vọng niệm khác liền tiếp
nối, rong ruổi theo vọng niệm, chẳng biết đè nén
vọng niệm, dùng A Di Ðà Phật để đè nén chúng.
Ðây là một công phu đơn giản nhưng lắm người
chưa làm được là vì duyên cớ nào? Là vì nhiều
đời, nhiều kiếp đến nay, họ nghĩ đến vọng niệm
quá thuần thục rồi nên tuyệt đối chẳng thể dùng
“A Di Ðà Phật” để đàn áp vọng niệm được, có nói
cũng chẳng nghe. Nếu như vậy thì chẳng còn biện
pháp nào cả. Quý vị phải hiểu rõ điều này.
Trên đây,
tôi thưa chuyện cùng quý vị mấy câu như vậy là
nhằm trình bày những việc quý vị cần phải hiểu
rõ trước khi đả thất, chứ chưa khuyên quý vị
phải nên thực hành cách nào; giờ đây tôi sẽ
thưa. Sau này quý vị sẽ thấy những lời ấy cũng
rất bình thường. Quý vị đừng phân biệt là bình
thường hay không, cả sáu chữ “nam mô A Di Ðà
Phật” kể ra rất bình thường, nhưng sao nhiều
đời, nhiều kiếp vẫn không niệm được?
Chúng ta
tu hành thực tiễn, chẳng cần biết là tu theo
tông nào, nói chung tông nào cũng đều có hai
phương diện:
- Một là
“chánh công phu”. Thế nào là Chánh Công Phu?
Thực hành Chánh Công Phu chẳng ngoài mục đích để
Tu Hành. Khai trừ, khử sạch những Kiến Tư Hoặc,
những thứ loạn tạp rối bời trong tâm quý vị thì
gọi là Tu Hành. Chúng sanh ai nấy đều có Phật
Tánh. Bổn tánh của quý vị chính là Phật Tánh,
nhưng đáng tiếc là tánh ấy bị các thứ bại hoại
che đậy. Biện pháp để trừ khử hết sạch những thứ
bại hoại ấy thì gọi là “Chánh Công Phu”.
- Ta hiểu
được những gì bại hoại cần phải đào thải khỏi
tâm này là một chuyện, nhưng trừ bịnh đâu phải
là chuyện dễ, vì thế cần phải có công phu hỗ trợ
(Trợ Công Phu). Mỗi một tông có công phu hỗ trợ
riêng. Hôm nay tôi sẽ vì quý vị phân biệt rõ
phải thực hiện Chánh Công Phu và Trợ Công Phu
như thế nào.
Quý vị
đến dự Phật thất là vì muốn đạt Nhất Tâm. Ðoạn
Hoặc là Nhất Tâm, chế ngự được Hoặc cũng là Nhất
Tâm. Ðạt được Nhất Tâm thì lúc lâm chung mới có
thể vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, không
được Nhất Tâm thì không vãng sanh. Ðấy chính là
điều kinh A Di Ðà đã dạy. Lấy lời kinh dạy làm
chuẩn. Lắm người cứ mơ hồ cho rằng lúc mình lâm
chung, A Di Ðà liền đến đón mình. Thật ra thì
phải Nhất Tâm mới được Phật đón tiếp. A, vì sao
vậy? Do tâm mình phát lộ quang minh, quang minh
của Phật A Di Ðà liền dõi theo đó, tiếp dẫn mình
sanh về cõi kia. Nếu Kiến Tư Hoặc, các thứ bại
hoại phủ lấy quý vị, che lấp quý vị thì Phật A
Di Ðà cũng không có biện pháp gì. Quý vị phải
hiểu rõ điều này.
Mỗi khi
chúng ta bước chân vào cửa chùa Linh Sơn thì
liền thấy Phật. Phật có Pháp Thân, Pháp Thân
chẳng phải chỉ hiện diện nơi tượng Phật đúc, mà
chỗ nào cũng có Pháp Thân hết, chỉ tiếc là bọn
phàm phu chúng ta chẳng thấy được. Bây giờ mỗi
khi mình đến chùa Linh Sơn, thấy tượng Phật phải
coi như là Phật, coi như là Phật đang ở ngay
trước mắt. Tôi xin hỏi quý vị một câu: Quý vị
gặp Tổng Thống thì thái độ ra sao? Tổng Thống
đến đây thì chẳng dám nói lời nào, ngồi ngay
ngắn, chỉnh tề, lưu tâm cẩn thận, hết sức quy
củ. Tổng Thống cũng chỉ là phàm phu giống hệt
mình. Gặp ông ta thì ai nấy đều có thái độ như
thế đó, nhưng gặp Phật lại chẳng được như vậy,
dù thấy Phật cũng xem như Phật chẳng hiện diện,
sao mà lầm loạn đến thế? Quý vị ơi, quý vị làm
như vậy là khinh thường Phật quá đấy. Ðừng nói
chi đến Tổng Thống, cục trưởng cảnh sát đi tới,
quý vị có sợ hay chăng? Coi Phật không bằng viên
cảnh sát trưởng như thế thì quý vị
(có tu hành) thành công được chăng? Tổ Sư dạy như thế này:
Ðiều đầu tiên là phải cung kính. Mỗi khi đến
đây, phải coi như Phật đang ở ngay trước mắt,
nói năng, động tác hết thảy đều cung kính, muôn
phần cung kính. Nếu như trong tâm còn một phần
lười nhác, một phần chẳng cung kính thì chẳng
chứng được Nhất Tâm. Ðây là bước thứ nhất.
Ðã cung
kính rồi, mỗi khi ngồi xuống niệm Phật hay lúc
chẳng niệm cũng đều như nhau, tiến lên nữa là
buông vạn duyên xuống. Thế nào là vạn duyên?
Chính là vọng tưởng khởi lên thời thời, khắc
khắc chẳng đoạn. Mỗi một vọng tưởng là một hạt
giống của một lần luân hồi, một lần sanh tử,
nguy hiểm lớn lắm. Vọng tưởng là gì? Mỗi một
vọng tưởng là một Kiến Tư Hoặc, là vật bại hoại,
là bụi bậm. Khởi vọng tưởng là tâm chạy theo bên
ngoài. Chạy theo những pháp nào bên ngoài? Nghĩ
cái bàn, nghĩ cái ghế, nghĩ đến cái gì tâm liền
đặt nơi đó, tâm quý vị hoàn toàn chẳng đặt yên
nơi A Di Ðà Phật. Ðây là chứng bệnh lớn gọi là
Loạn. Nếu tâm quý vị chạy lung tung thì chẳng
phải là loạn hay sao? Làm thế nào đây? Trong tâm
chỉ có Phật, đem tâm đặt yên nơi Phật. Phật
giống như một cái cọc thuyền trên sông, tâm là
chiếc thuyền. Cột chặt thuyền vào cọc thì còn
trôi đâu được nữa! Miệng không niệm Phật nhưng
trong tâm có Phật, giữ lòng cung kính thì Phật
hiện diện ngay trong chúng ta. Chẳng dám loạn
tưởng thì dù miệng không niệm cũng được Nhất
Tâm. Ðây là tầng thứ hai.
Ðiều thứ
ba là lúc niệm Phật, niệm sáu chữ hay bốn chữ,
dù sáu chữ hay bốn chữ đều cùng một cách niệm.
Trước hết trong tâm phải tưởng. Nếu trong tâm
chẳng niệm, chỉ gào xuông ngoài miệng thì đấy
chỉ là xướng ca, không nên! Ðồng thời trong tâm
chẳng khởi hai ý niệm, hễ nghĩ đến Phật thì
không còn có ý niệm nào khác. Có ý niệm khác thì
ý niệm về Phật cũng không còn. Ðiều này bọn
chúng ta phàm phu thiếu công phu chưa thấy rõ.
Niệm Phật trong tâm tưởng, trong tâm rõ ràng,
trong trẻo. Miệng lại niệm ra, công phu niệm ra
cũng rõ ràng, tách bạch. Sau đó, chính mình nghe,
nghe chính tiếng mình niệm, nghe sáu chữ ấy cũng
rõ ràng, minh bạch, chẳng để sót chữ nào. Tâm
tưởng, miệng niệm ra, tai lại lắng nghe vào,
giáp vòng như vậy thì tâm không chạy đi đâu được.
Ðó là một cách.
Niệm đến
mức nào? Quý vị khỏi cần phải hỏi ai là mình
niệm đến mức nào cả. Quý vị như thế nào người
khác làm sao hiểu được. Quý vị đã không hiểu
mình như thế nào thì người khác làm sao hiểu
được? Tôi chỉ cho quý vị hiểu nhé! Quý vị niệm
Phật cứ tự mình nghe, nghe chính mình niệm Phật,
chính miệng mình niệm Phật, chính mình tự nghe.
Bất cứ thứ nào khác đều chẳng nghe thấy thì công
phu của quý vị đã thuần, tự mình niệm Phật, tự
niệm, tự nghe. Ðiều này khó làm được. Vì sao? Ở
nhà thì không hề gì, mình ở trong nhà mình, mình
niệm như vậy được, nhưng đến đây dự Phật thất,
mọi người đều niệm Phật, làm sao mình không nghe
thấy được? Không nghe thấy là tốt, nhưng nếu
nghe thấy thì làm cách nào? Nghe thấy cũng tốt.
Vì sao nghe thấy cũng tốt? Trong Tịnh Tông có
Trợ Niệm Ðoàn để hỗ trợ lúc lâm chung. Vì sao
gọi là Trợ Niệm Ðoàn? Vong giả lúc lâm chung bị
hôn trầm, phong đao chia cắt thân, trong tâm rối
loạn. Vừa loạn vừa hôn trầm thì Phật chẳng hiện
hữu. Người trợ niệm ở bên cạnh niệm “A Di Ðà
Phật, A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật” để lay tỉnh
tâm niệm người đó vì sợ người sắp chết quên
khuấy chẳng đề khởi tâm niệm Phật. Người chết
nghe thì cũng giống như chính mình niệm, chính
mình tự niệm, tự nghe. Quý vị nghe người khác
niệm cũng như chính mình đang niệm. Quý vị đến
đây niệm Phật là tự mình nghe, người khác niệm
Phật giúp cho quý vị, sợ quý vị quên đi. Quý vị
có thể nghỉ niệm một chút, nghe người khác niệm
rõ ràng, tách bạch, trong tâm vẫn có Phật, không
chạy đi đâu hết. Ðây là bước công phu thứ ba.
Ðiều thứ
tư, tự tu rất trọng yếu. Quý vị niệm Phật có tạo
thành tiếng hay không? Mọi người có hiểu rõ điều
này chăng? Có tiếng đấy. Niệm Phật dù nhỏ cách
mấy vẫn có âm thanh. Dù miệng không niệm, chỉ
niệm trong tâm vẫn có âm thanh. Quý vị cứ nghĩ
lại lúc mình học bài sẽ hiểu điều này. Gọi là
“tâm huyền” (dây đàn tâm) là ngụ ý: tâm giống
hệt như dây đàn, tâm cũng có âm thanh. Quý vị
tưởng A Di Ðà Phật thì ngay ý niệm ấy phát ra âm
thanh. Quý vị có âm thanh, âm thanh ấy chẳng tạp
loạn thì chính là A Di Ðà Phật.
Pháp Thân
của Phật A Di Ðà không chỗ nào chẳng hiện diện.
Phật hiện diện ở đâu nơi đó đều có quang minh:
“Quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ Tát
chúng diệc vô biên” (trong quang minh hóa
hiện vô số ức đức Phật, và cũng hóa ra vô biên
các vị Bồ Tát). Trong quang minh của Phật, Phật
A Di Ðà và các vị Bồ Tát hiện diện trong đó lại
đều là quang minh. Âm thanh của quý vị phát ra
đó sẽ đi về đâu? Ði đến quang minh của Phật.
Quang minh của Phật lại đi đến đâu? Hòa nhập vào
âm thanh của quý vị. Khi âm thanh hòa lẫn vào
quang minh, quý vị chính là A Di Ðà Phật. Khi
quang minh hòa nhập vào âm thanh thì A Di Ðà
Phật chính là quý vị. Khi âm thanh và quang minh
hòa hợp nhau, nếu quý vị không vãng sanh thì sẽ
chạy đi đâu nữa đây? Ðây là điều thứ tư. Có vậy
mới kể là đã đạt công phu. Ðấy chính là biện
pháp tu hành Chánh Công Phu vậy.
Lại còn
có công phu để hỗ trợ. Sức của công phu hỗ trợ
rất lớn. Vì sao vậy? Thưa cùng quý vị, giờ đây
quý vị thực hành theo biện pháp tôi vừa nêu đến
mức (chánh công phu) rất khá rồi, một khi quý vị
bước chân ra khỏi cổng chùa, liền nghĩ: “Ái chà!
Bây giờ mình có thể nói sướng miệng đây!” Hỏng
rồi! Ngay lúc tâm khởi ý niệm buông lung khẩu
nghiệp thì tâm quý vị liền chạy theo bên ngoài.
Mới gom tâm để đạt được Nhất Tâm, vừa bước ra
ngoài liền để tâm chạy theo bên ngoài thì công
niệm Phật tại đây (chùa Linh Sơn) đành mất
trắng. Ra ngoài thấy, nghe sự gì đó tâm lại loạn
thì uổng mất công niệm Phật tại đây. Ở trong
này, đàn áp được Kiến Tư Hoặc, nhưng vừa ra
ngoài là lại chồng chất thêm, quý vị nghĩ nên
trách ai?
Công phu
tu hành xét đến cùng cực thì chính là ngày chầy
tháng rộng, thời thời khắc khắc chẳng biến đổi.
Chẳng những chỉ ở chùa Linh Sơn mới tu như vậy
mà khi ra khỏi cổng chùa cho đến khi về đến nhà
vĩnh viễn tu hành như vậy thì mới là tu hành,
chứ chẳng phải ngoài dịp Phật thất thì chẳng tu
hành. Nếu như chùa Linh Sơn không mở Phật thất,
quý vị không tu thì chính là quý vị tự hại mình,
chẳng cần biết là có mở Phật thất hay không vẫn
thực hành như vậy. Vậy thì xét ra biện pháp này
có khó thực hiện hay chăng?
Nếu chẳng
giữ vững được một câu Phật hiệu thì phải luôn
sám hối. Ðiều này rất khẩn yếu. Sám hối là tự
xét những điều mình làm chẳng đúng, tạo bao tội
lỗi. Xét ra dù xuất gia hay tại gia, người tu
hành chắc thật thì thấy mình làm gì cũng đều là
tội lỗi. Hễ nhắc đến tội liền sám hối. Mình đã
làm sai, nhưng làm sai rồi lại làm gì nữa? Ðã
làm sai nhưng vẫn còn tái phạm. Mỗi ngày thời
thời, khắc khắc từ sáng đến tối sám hối. Như vậy
thì ngoài việc sám hối ra còn có gì làm loạn
mình nữa ư? Dù có loạn ở chỗ nào đi nữa, vẫn chú
tâm nơi Phật, thì còn có gì nữa đâu?
Thấy
người khác làm điều tốt bèn sanh lòng hoan hỷ.
Thật ra, phát tâm hoan hỷ cũng là loạn, chẳng
thể vãng sanh; cho nên hễ thấy ai làm điều lành
gì bèn nghĩ: “Tốt quá! Người ấy có thể vãng sanh”.
Ai làm điều gì tốt mình cũng mừng rằng người ấy
sẽ được vãng sanh. Vừa sám hối, vừa tùy hỷ như
thế thì ngày chầy tháng đọng, dù loạn nhưng thật
sự chẳng loạn. Ðây chính là công phu hỗ trợ thứ
nhất.
Hơn nữa,
mỗi tông có cách tu hành riêng. Dùng cách tu
hành của tông khác để tu Tịnh Ðộ sẽ chẳng thành
công. Dùng cách tu của Tịnh Tông để tu các tông
khác cũng chẳng thể thành công. Tịnh Ðộ Tông có
hai chữ “hân, yểm”. Hân là thấy sự tình gì mình
bèn hy vọng được như vậy. Nói theo ngôn ngữ hiện
tại thì Hân là “tâm hy vọng”. Yểm là nhàm lìa,
chán ghét. Hai chữ Hân - Yểm được coi là căn
bệnh lớn trong nhà Thiền. Quý vị tu Tịnh Ðộ nghe
các tông khác giảng giáo lý, họ sẽ nói hai chữ
Hân - Yểm là bại hoại, chẳng nên giữ lấy; nhưng
trong nhà Tịnh, hai chữ xấu xa ấy đối với chúng
ta lại là điều cực hảo vì cách sử dụng hoàn toàn
khác nhau. Bí quyết huyền diệu của Tịnh Tông nằm
ngay tại hai chữ đó!
Ðối với
hết thảy mọi sự trong thế giới này, quý vị đều
nên chẳng tham luyến vì chúng đều là giả cả,
chẳng có chút gì chân thật. Thế giới Sa Bà là
thế giới ô uế, giống như hầm phân, như cái giỏ
bẩn thỉu, có gì tốt đâu! Chúng ta thấy cái giỏ
bẩn thỉu bèn chẳng chịu chạm vào những thứ dơ
dáy. Họa may là ruồi nhặng, giòi tửa thấy cái
giỏ bẩn thỉu ấy mới cao hứng được thôi. Chúng nó
thấy là tốt vì cùng là một phường, ta đừng bắt
chước chúng. Thế giới Sa Bà đây không có một
điểm nào tốt cả nên mình chán ngán chốn này,
chẳng mong ở mãi nơi đây, mong sớm được xa lìa
nó. Lòng luôn nghĩ như vậy thì tham luyến còn
trụ vào đâu được nữa.
Ðã thế,
xem kinh Di Ðà mấy lượt, mọi sự nói trong đó
không điều gì là không tốt; bởi thế nên bèn ưa
thích cõi kia. Ðây là Hân. Quý vị nhìn ra ngoài
thấy cao ốc lố nhố, đi đâu phải ngồi xe hơi, so
với thế giới Cực Lạc khác nhiều lắm, ta chẳng
ưa. Ðây là Yểm.
Chán nhàm
cõi này, lại nghĩ trong cõi kia chẳng dùng đến
xe, cứ ngồi trong nhà nghĩ muốn đến đâu thì nhà
liền bay đến đó mang mình theo. Nếu không thích
nhà cửa che tầm mắt mình thì tường vách cũng
không còn nữa. Mỗi một đóa sen ánh sáng thiên
biến vạn hóa, chưa hề được thấy qua.
Quý vị
thấy phủ Tổng Thống cõi này như thế nào? Là Kim
Loan điện. Nói cho quý vị nghe, may là cõi Cực
Lạc không có đại tiểu tiện. Nếu có đại tiểu
tiện, hầm phân thì có hơn gì Kim Loan điện cõi
này. A! Quý vị luôn nghĩ như sau: nhàm chán cõi
này, ưa thích cõi kia. Hân - Yểm rất khẩn yếu,
là biện pháp hỗ trợ rất lớn. Ba mươi bảy Ðạo
Phẩm vốn là Trợ Công Phu khẩn yếu của Tịnh tông,
nhưng có ai trong chúng ta nhớ hoài được. Cứ
luôn nhớ kỹ hai chữ Hân - Yểm này là được. Ðây
là Trợ Công Phu thứ hai.
Ðiều thứ
ba, chỉ cần tâm quý vị khởi một vọng tưởng thì
đó chính là Ma. Quý vị hay nói người nào đó bị
ma dựa, nhưng có thấy con ma đó chưa? Thật ra,
ai cũng có ma theo bén gót. Ma trong tâm chẳng
lo, lại toan dẹp Ma bên ngoài! Vậy thì Ma là gì?
Vọng niệm khởi chính là Ma, đó là Nội Ma. Vọng
niệm khởi lên thì dù quý vị có đi qua Tây Phương
Cực Lạc thế giới nó vẫn dùng móc lôi tuốt quý vị
đi theo, quý vị không làm gì được. Sức lực của
ma thật là lớn vậy. Làm sao bây giờ?
Dù thế
nào đi nữa, sức Ma lớn đến đâu vẫn chẳng thể lớn
hơn sức Phật. Một câu A Di Ðà Phật chiếu đến Ma,
Ma liền bỏ chạy, Phật hiệu áp chế được Ma. Vọng
tưởng là Ma, niệm một câu Phật hiệu là Phật,
dùng Phật hiệu để áp chế Ma. Khi vọng tưởng khởi
động là nghĩ tới Ma thì nó đến, ta trị không
được, chỉ có mình Phật hiệu thắng được nó, quý
vị liền gấp rút niệm Phật. Niệm thuần thục rồi
thì dù mình có muốn gọi Ma tới, nó cũng chẳng
tới vì khắp trong tâm toàn là Phật. Có Phật thì
không có Ma. Có Ma thì không có Phật. Vì thế,
đây là cách chế ngự Hoặc chứ không đoạn Hoặc,
không trừ gốc của Hoặc. Vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới rồi thì tự nhiên đoạn sạch Hoặc.
Chẳng cần
phải nói nhiều nữa, ba điều trên là đủ. Trong
bảy ngày này, kính xin quý vị thực hành đúng
theo những điều ấy, về đến nhà cũng vẫn tu như
vậy thì kỳ Phật thất này chẳng uổng phí. Tiếp
đây, tôi dùng một bài kệ để kết thúc:
a.
“Tịnh Ðộ nan tín khước dị hành”
(Tịnh Ðộ khó tin, nhưng dễ hành):
Chỉ mỗi
mình Ðức Phật là có thể giảng minh bạch Tịnh Ðộ
Tông, ngoại trừ Ðức Phật không còn một ai khác
có thể giảng minh bạch được. Vì thế, Tịnh Ðộ
“nan tín”. Học Phật nhiều năm, kinh sách mười
phần coi hết chín, vẫn chẳng tin nổi Tịnh Tông.
Vì thế bảo là pháp Nan Tín. Nhưng đối với ai tu
được pháp này thì nó rất đơn giản. Những lời tôi
nói đây đều là lời của Tổ Sư, của Phật giảng,
chứ chẳng phải là lời tôi giảng. Tôi chỉ là cái
máy cassette phát lại cho quý vị nghe mà thôi.
Pháp tu dễ dàng nhưng phải có rèn luyện lâu dài,
chứ chẳng phải là vừa tu là thành tựu được ngay,
vừa tu là chứng ngay. Ðó là câu kệ thứ nhất.
b.
“Toàn do nhị lực chánh trợ công”
(hoàn toàn do hai lực và Chánh Công Phu, Trợ
Công Phu):
Nhị lực
tức là công phu của chính mình (tự lực). Mình
không dụng công không xong. Ngoài ra còn có Phật
lực, Phật đến tiếp dẫn mình. Quý vị xem, phần
nhiều tượng Phật A Di Ðà là tượng đứng, là dạng
tiếp dẫn. Thật ra, vị Phật nào cũng đều có Tịnh
Ðộ riêng, nhưng các Ðức Phật khác chẳng đến tiếp
dẫn mình. Chỉ mình Ðức Phật A Di Ðà đến tiếp dẫn
ta. Quý vị không biết đường cũng chẳng sao, A Di
Ðà Phật cầm hoa sen đến đón quý vị, cứ ngự lên
hoa sen, cứ ngự lên hoa sen! Ngài đưa quý vị đi!
Nếu sanh về cõi khác sẽ chẳng có phương tiện này
đâu, quý vị phải tự nhận biết đường.
c.
“Tất đắc Nhất Tâm phương hữu hiệu”
(phải đạt được Nhất Tâm thì mới hữu hiệu):
Quý vị
phải niệm đến Nhất Tâm mới hữu hiệu. Niệm không
Nhất Tâm thì vô dụng. Ðiều này ai nấy hãy nghe
cho rõ. Thế nào là Nhất Tâm? Ðoạn Hoặc là Nhất
Tâm thuần túy. Chế ngự Hoặc cũng là Nhất Tâm,
cũng được vãng sanh.
d.
“Phương tiện phục Hoặc tức cảm thông”
(dùng phương tiện chế ngự Hoặc liền cảm thông):
Ðoạn Hoặc
chẳng dễ. Thành A La Hán là pháp Tiểu Thừa, đoạn
sạch Kiến Hoặc rồi còn phải sanh vào nhân gian
hay cõi trời bảy lần, tu tập cả vạn năm mới
thành tựu, mới đoạn sạch Tư Hoặc. Quý vị niệm A
Di Ðà Phật bảy ngày thành công, thật là thuận
tiện quá. Quý vị chẳng dùng công phu trên đây
không thể đoạn Hoặc, làm thế nào đây? Thì lại có
pháp phương tiện là chế phục Hoặc. Còn đối với
các tông khác thì sao? Trong các tông khác, chế
phục Hoặc là điều hoàn toàn vô dụng. Tu các tông
khác thì dù có chế phục Hoặc vẫn còn trong luân
hồi, hoàn toàn vô dụng. Chế phục Hoặc chỉ hữu
dụng đối với Tịnh Ðộ Tông, trong các tông khác
chẳng thể áp dụng cách này được.
Do chế
phục Hoặc, quý vị được sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới thì sẽ đoạn Hoặc ở nơi đó, tự nhiên
A Di Ðà Phật sẽ giúp quý vị đoạn Hoặc. Cốt sao
cảm ứng thì quang minh dung thông lẫn nhau mới
có thể thành công.
Nói tóm
lại, đến ngày thứ tư tôi sẽ giảng nữa. Nay giảng
đôi điều về công phu, mọi người nên nhớ kỹ. Hôm
nay là ngày đầu, từ đây đến suốt bảy ngày sau
quý vị cứ thực hành theo đó, tận dụng thời gian
này khẩn thiết niệm Phật. Xin lão sư sắp sẵn
kiền chùy
(2),
ai nấy buông xuống vạn duyên, cứ một câu A Di Ðà
mà niệm mãi.
Trang 17
|
|
VI. KHAI THỊ PHẬT THẤT TẠI CHÙA LINH SƠN NĂM MẬU
NGỌ (lần thứ hai)
(Tư Thục
Ðiền Kế Nghiêm kính ghi, đệ tử Ngô Bích Hà giảo đính)
Tạp niệm
giai thị bình tố tội,
Nhược bất
tạo nghiệp niệm bất sanh,
Tùng kim
thiết mạc tái tạo nghiệp
Nhất Tâm
Bất Loạn tự nhiên thành
Tạp niệm là
tội ngày thường
Nghiệp như
chẳng tạo, niệm đường nào sanh,
Từ nay chẳng
tạo nghiệp trần
Nhất Tâm Bất
Loạn quả thành tự nhiên |
Phật thất đã
đến ngày thứ năm, tôi đã nói chỉ cần chiếu theo
phương pháp đã giảng trong ngày thứ nhất mà tu tập,
nhìn chung ít nhiều có tiến bộ dần dần. Tính từ hôm
nay chỉ còn có hai ngày nữa thôi, chúng ta chỉ cầu
Nhất Tâm, không cầu gì khác.
Ða số mọi
người chẳng hiểu Tâm là cái gì, học Phật chỉ cần
hiểu được chữ Tâm này thì công phu mới chẳng uổng
lầm. Có thể nói là mọi người tu hành nhiều năm nhưng
vẫn chưa hiểu rõ chữ Tâm này, nên hôm nay tôi nói
cho quý vị nghe ý nghĩa của chữ Tâm để quý vị dụng
công nơi Tâm.
Tâm ở đây
hoàn toàn chẳng phải là “nhục đoàn tâm” (quả tim
thịt), chẳng phải là vật gì, chẳng phải là trái tim
thuộc trong ngũ tạng, lục phủ. Như vậy, nói tới cùng,
Tâm là gì? Từ xưa đến nay ai cũng chẳng thấy, ai
cũng chẳng tìm được nó. Chỉ người chứng quả mới hiểu
rõ mà thôi, hễ hiểu được Tâm thì chứng quả. Người
đến giảng khai thị hôm nay cũng chỉ nói những điều
tạm diễn tả Tâm để mọi người tự suy nghĩ lấy. Một
khi tôi đã nói ra, mọi người nên tin tưởng. Nếu
chẳng tin thì đành chẳng có cách nào. Những điều tôi
sắp nói rất bình thường, nhưng rất khó thực hiện bởi
nó là pháp khó tin dễ hành vậy.
Tâm chính là
ý niệm của mỗi người tự phát khởi. Tâm nghĩ đến điều
gì thì liền khởi ý niệm về điều đó. Nếu bảo kẻ này
tâm tốt, kẻ kia tâm xấu thì cũng là nói về ý niệm
của người đó. Ý niệm đó gọi là Tâm. Câu nói này, đối
với người đã học Phật mấy năm thì khó mà nói là
chẳng hiểu được! Tâm ấy chẳng thấy được, chẳng sờ
được, nhưng tự mình chẳng lẽ không hay biết hay sao?
Bởi thế, người ta tu hành chính là tu ngay nơi ý
niệm này. Quý vị nên nhớ kỹ. Làm thế nào để tu nơi ý
niệm?
Muốn hiểu rõ
cách tu thì trước hết phải hiểu rõ ý niệm đã. Trong
những ý niệm của con người, không có được một ý niệm
tốt mà toàn là vọng niệm, tạp niệm. Vọng niệm không
có gì là chân thực, đều là giả dối cả. Tạp niệm là ý
niệm chẳng sạch sẽ, tịnh rồi lại tạp ư? Nói khái
quát, ý niệm của chúng ta toàn là tạp loạn, hư vọng,
toàn là chẳng đúng. Quý vị có biết trong một ngày
chúng ta khởi bao nhiêu ý niệm không? Xin nói cho
quý vị hay: Quý vị xem đây (cụ Lý búng ngón tay),
trong khoảng thời gian búng ngón tay thật ngắn ngủi
này đây, nói không sai cho lắm là quý vị có gần cả
trăm mấy mươi ý niệm, nhanh như vậy đó! Mà một ngày
từ sáng đến tối chẳng ngừng, nói cho quý vị hay là
quý vị chẳng có ý niệm nào cầu thành Phật cả.
Quý vị nghe
vậy tin hay chẳng tin? Có vị nghe tôi nói lời này
liền tin ngay, ai chẳng tin lời tôi, người đó chẳng
tin Phật pháp. Vì sao vậy? Lời tôi vừa nói đó đâu
phải do tôi đặt ra, mà đều là những điều được nói
trong kinh. Ai không tin Phật pháp thì học Phật cách
nào? Làm sao thành tựu được? Học Phật phải thờ ai
làm thầy? Phật chính là thầy. Làm theo đúng lời Phật
dạy ắt sẽ thành công; chẳng tuân theo thì chẳng cách
nào thành công được.
Từ sáng đến
tối ý niệm phát khởi chẳng ngừng, nhiều như thế đó,
chẳng ai nắm giữ được những ý niệm này, mà những ý
niệm được phát khởi đó đều là những ý niệm xấu xa
cả. Dù có ý niệm xấu như vậy nhưng có thể là chúng
ta chẳng nói lời xấu, cũng như không làm điều gì
xấu. Hừm! Rõ ràng trong tâm nổi lên chủ ý xấu, chẳng
nói lời xấu, chẳng làm điều gì, nhưng chủ ý xấu vẫn
có ảnh hưởng, nhà Phật gọi là “chủng tử”. Ðây là
cách nói thí dụ, chứ chẳng phải thực sự là gieo hạt
giống xuống.
Một khi ý
niệm khởi lên, nó sẽ in bóng vào tâm. Hình bóng của
ý niệm được in vào tâm đó gọi là “chủng tử”. Quý vị
nghĩ xem, có những sự việc đã lâu năm, chợt nghĩ đến
thì những điều mình nghĩ đến đó liền tái hiện. Những
điều mình nghĩ đến đó chẳng hề giảm mất, chúng đều
được chứa trọn trong tám thức điền, cả vạn vạn năm
chẳng bị tiêu diệt mất. Dù cho mình có bận tâm hoặc
chẳng quan tâm gì đến chúng, hình ảnh của chúng vẫn
tồn tại trong tâm mình. Những gì mình mơ thấy trong
giấc ngủ chính là những hình ảnh này. Ðến lúc chúng
ta lâm chung, những hình ảnh trong tâm sẽ hiện ra
ngoài, tạo thành ý niệm. Khi lâm chung vào lúc tối
hậu, khi ý tưởng mình chấp vào đâu, nó sẽ dẫn mình
theo đi đầu thai nơi đó, lại trở vào trong lục đạo
luân hồi.
Nói là lục
đạo luân hồi, nhưng thật ra chỉ có ba đường dưới.
Chúng ta khởi tâm, tâm người không có, tâm trời cũng
không thì đương nhiên là khởi tâm tam đồ. Tâm này
phát khởi ra sao? Chúng tôi chẳng đề cập đến chuyện
từng làm điều xấu, mà chỉ luận về tâm. Dạy mọi người
giữ giới, mọi người không giữ, hoặc giữ giới nhưng
toàn phát khởi ý niệm phạm giới. Do phạm giới, tâm
này phải đọa trong tam đồ: súc sanh, địa ngục, ngạ
quỷ. Nếu tạo thành hành động (tạo nghiệp) thì thời
gian thọ khổ dài thêm một phần, tội lớn thêm một
phần. Chẳng tạo thành hành động (chỉ khởi vọng niệm,
còn chưa tạo nghiệp) thì tội ít hơn một phần, thời
gian thọ khổ ngắn hơn một phần. Trước hết, phải phân
biệt hiểu rõ điểm này.
Học Phật tu
hành, tu hành những gì? Tu hành chính là tu ý niệm
này. Có người nói tôi chẳng khởi ý niệm lớn, chẳng
nói gì, còn chẳng thấy mình đang giác ngộ những ý
niệm của chính mình khởi lên thì còn cái gì để tu
nữa đây?
Chẳng có một
ai không hề khởi lên một ý niệm nào cả! Ðến ngay bậc
Ðẳng Giác Bồ Tát vẫn còn khởi niệm nữa kia! “Vô niệm”
chính là không vọng niệm, không tà niệm, chứ hoàn
toàn chẳng phải là không có ý niệm nào! Ðiều này vị
nào xem kinh nhiều cũng đã thấy rõ rồi. Nếu không có
ý niệm thì trở thành gỗ, đá. Quý vị tu thành gỗ, đá
để làm gì?
Chẳng qua (tu
học) là để biến đổi ý niệm. Biến đổi như thế nào?
“Chẳng khiến người khác khởi vọng niệm, chẳng khiến
người khác tạp loạn”. Chẳng khiến người khác
khởi vọng niệm nghĩa là chỉ có ý niệm thanh tịnh,
trong sạch. Ðiều này trong kinh có nói đến. Ai đọc
chương Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông
(trong
kinh Lăng Nghiêm) ắt sẽ hiểu câu “tịnh niệm tiếp nối”
nghĩa là khiến cho ý niệm thanh tịnh được liên tục
chẳng gián đoạn. Người khác “loạn niệm tiếp nối”,
mình tu hành sao cho “tịnh niệm tiếp nối”.
Thế nào là “tịnh”?
Tịnh là thuần một ý niệm, không tạp loạn, chẳng có
bảy thứ tình cảm: mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét,
sợ, chẳng có giết, dâm, trộm, chẳng có tham, sân, si.
Chẳng có những điều ấy thì ý niệm thanh tịnh. Quý vị
thử nghĩ xem, nếu ý niệm chẳng tạp loạn thì chẳng
phải là thanh tịnh hay sao? Không kể bọn mình ra,
ngay cả hàng Ðịa Thượng Bồ Tát còn chưa đạt được ý
niệm thanh tịnh, nói chi là bọn mình! Chúng ta không
có ý niệm thanh tịnh thì phải làm thế nào đây? Ai có
thể triệt để thực hiện được điều này? Chỉ có mình
Ðức Phật! Ý niệm của Ðức Phật hoàn toàn thanh tịnh.
Chỗ nào mà mọi bất tịnh đã hoàn toàn trừ khử thì chỗ
đó chính là thế giới trang nghiêm của Phật, tức là
Tịnh Ðộ. Kinh Nhân Vương Hộ Quốc chép: “Tam Hiền,
Thập Thánh còn trụ trong quả báo, chỉ mình đức Phật
ngự trong Tịnh Ðộ”. Tam Hiền, Thập Thánh ý niệm
còn chưa thuần thanh tịnh. Quý vị cứ lấy kinh Hộ
Quốc Nhân Vương dò kỹ từng dòng sẽ thấy chỉ mình Ðức
Phật thanh tịnh ý niệm triệt để. Chúng ta chưa thành
Phật, ngay cả La Hán còn chưa chứng, chưa đoạn được
bất cứ thứ Hoặc nào, thì làm thế nào để tịnh ý niệm
đây?
Trước hết,
hãy hỏi quý vị một câu: Lúc quý vị ở đây niệm Phật
thì chuyện niệm đó cũng là khởi ý niệm, vậy thì niệm
đó là Phật hay không phải là Phật? Là Phật. Ðúng như
vậy! Phật là thanh tịnh nhất, ngoại trừ Phật ra, tất
cả đều chẳng thanh tịnh, đều hư giả. Niệm đó chính
là A Di Ðà Phật. Phật A Di Ðà là bậc nhất trong các
Ðức Phật. Niệm nằm trong tâm quý vị, tâm chính là A
Di Ðà Phật. A Di Ðà Phật chính là tâm niệm của quý
vị. Trừ điều này ra không còn gì khác nữa, ắt sẽ
thành công. Ngoài phương pháp này, không có phương
pháp nào đơn giản hơn nữa. Bởi thế, chẳng cần vận
dụng đến phương tiện nào khác nữa mà tâm tự khai
ngộ. Ở đây niệm chú này, nơi kia niệm chú kia đều
uổng công. Dù có nhiều phương tiện, nhưng chẳng cần
phải tu phương tiện nào khác. Chẳng cần vận dụng
phương tiện mà tâm tự khai ngộ chính là điều tối
khẩn yếu. Quý vị tu hành như thế đó, biến ý niệm của
chính mình thành Phật A Di Ðà, ngoài đức A Di Ðà
Phật không còn có tâm nào khác nữa, thì gọi là Nhất
Tâm.
Ðiều vừa bàn
trên chẳng phải chỉ dùng mấy câu là có thể giảng
minh bạch được, mà nó cũng rất khó giảng. Tôi chỉ
nói điều khẩn yếu nhưng vẫn e mọi người dù nghe rồi
vẫn chưa hiểu rõ. Tôi nói câu sau đây nhiều lần: “Từ
sáng đến tối, trong tâm chẳng khởi vọng tưởng, chẳng
khởi tạp niệm”, làm thế nào để đạt được như vậy mới
khỏi uổng công nói như thế! Trong hàng Bồ Tát chưa
chứng được Thất Ðịa còn nhiều vị chưa làm được điều
này.
Nếu quý vị
lại hỏi người khai thị làm được điều này chăng? Tôi
cũng chưa làm được! Quý vị không làm được lại bảo
tôi làm, có hợp lý không? Chẳng hợp lý! Tôi có
phương pháp: vọng niệm khởi thì tạp niệm cũng khởi.
Khởi rồi thì làm sao? Kinh dạy: “Ðừng sợ niệm
khởi, chỉ sợ giác chậm”. Vọng niệm khởi quý vị
mặc kệ, chẳng thèm biết đến là không được; vì là bị
ma dựa, là chứa chấp giặc mà mình vẫn không hay thì
chúng sẽ làm loạn trong tâm liền. Quý vị biết là có
ma, có giặc thì phải phòng bị. Ðó là điều nên làm
vậy!
Khi khởi ý
niệm xấu, quý vị bèn không tu Tịnh Ðộ nữa hay sao?
Quý vị tu Tịnh Ðộ nhưng không dùng phương pháp của
Tịnh Ðộ, lại dùng phương pháp khác, há chẳng phải là
phiền toái sao? Quý vị dùng ngay bốn chữ A Di Ðà
Phật, vọng niệm vừa khởi, chẳng lý gì đến hết thảy,
cứ A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật.... Vọng niệm vừa khởi
liền niệm mấy mươi câu A Di Ðà Phật đè nó xuống. Ðây
gọi là Chế Phục Hoặc. Ðè nén được nó thì ma đó, giặc
đó chẳng nổi dậy được, Ðè nén phía dưới, những thứ
bất tịnh chất chứa cũng bị đè xuống dưới thì trên
mặt sẽ thanh tịnh, giống như một chén nước, nếu cát
bụi bị lắng xuống dưới, phần nước bên trên sẽ trong
veo. Ðấy chính là Chế Phục Hoặc!
Giống như vậy,
khi lâm chung, mới vừa giao cảm thì phần trên sẽ
xuất hiện trước, phần dưới chẳng xuất hiện. Phần
trên là A Di Ðà Phật nên bèn được A Di Ðà Phật tiếp
dẫn đi. Còn nếu như phần dưới hiện ra thì không vãng
sanh được, Phật A Di Ðà cũng chẳng biết làm sao.
Trên đây là nói về phương pháp “chẳng sợ niệm khởi,
chỉ sợ giác chậm” vậy.
Chúng ta
không phải là người xuất gia. Người xuất gia sống
trong chùa nên không bị xã hội tạp loạn gây chướng
ngại. Vì họ ít việc nên chẳng khởi tạp loạn. Chúng
ta tại gia rất khó làm được vậy, toàn là lo những
việc thế tục. Chẳng hạn như nói đến những vật thường
thấy thuộc về thất tình: ai nấy đều tính toán tiền
bạc. Hễ tính toán tiền bạc thì nghĩ: ai phải đưa cho
mình chừng đó tiền, mình trao cho ai chừng đó tiền,
như vậy được mấy phân lời. Do mấy phân lời bèn suy
tính cái này, hoạch định cái kia. Ðấy là tâm tham!
Vậy phải làm sao? Hãy nghe tôi nói mấy câu: Lúc tính
tiền, đừng khởi chủ ý xấu, đừng toan nghĩ cách làm
thiệt hại đến người khác. Mình phải đưa tiền cho ai
thì cứ đếm một, hai, ba, bốn tờ... bao nhiêu đó, đếm
xong đừng chấp vào đó. Một, hai, ba, bốn chỉ là
những con số để tính đếm, chẳng thiện, chẳng ác.
Tính đếm xong thì thôi, buông hết xuống, xong việc
rồi thôi, buông bỏ, tâm không nghĩ đến nó nữa.
“Buông bỏ” rất khẩn yếu, ở đây tôi chỉ lấy việc tính
tiền làm thí dụ.
Lại như tại
gia tu hành, mình tu hành, người nhà không tu, ra
chợ mua thịt về kêu mình thái thịt hoặc sát hại con
gì đó thì mình làm sao? Lúc đó cũng đừng có khẩn
trương. Nếu không bảo kẻ kia làm được thì mình đành
phải làm; nhưng lúc đang làm, muôn phần chớ quên
niệm A Di Ðà Phật. Thịt đó, do chúng nó không học
Phật nên tạo ác nghiệp, mới bị biến thành heo, thành
dê, thành thịt, bị người khác ngàn cắt, vạn xẻ. Lúc
quý vị cắt xẻ, cứ mỗi nhát dao là một câu A Di Ðà
Phật thì con dao ấy sẽ thành A Di Ðà Phật tiêu tội
cho quý vị. Dùng cách quán tưởng ấy để biến cải tâm
mình là được.
Thậm chí ở
nơi nhà xí, chỗ bất tịnh, dù miệng chẳng niệm Phật
nhưng tâm tưởng: “Tây phương Cực Lạc thế giới không
có việc này, không có đại tiểu tiện. Thế giới Sa Bà
bẩn thỉu như vậy, chúng ta tạo các thứ tội nghiệp
mới phải sinh vào đây, tâm chẳng thanh tịnh mới sống
nơi chẳng sạch sẽ”. Lúc đó, giữ tấm lòng sám hối,
trong lòng cầu A Di Ðà Phật sớm cho mình được ôm
chân Ngài. Dù làm bất cứ việc gì cũng chẳng được
quên A Di Ðà Phật, chẳng cần phải niệm ra tiếng.
Trong tâm tưởng Phật để hoán chuyển cảnh giới. Ðấy
chính là “ức Phật”.
Quý vị tập
sao cho trong tâm chẳng hề quên Phật là được, dù gặp
phải tình huống thế nào, cứ đơn giản làm theo biện
pháp ấy. Tôi nói đi nói lại: Quý vị lấy trộm tiền
của người khác thì là ăn cắp vặt; vừa niệm Phật vừa
trộm lấy thì không còn cách nào để giảng cho quý vị
được nữa. Quý vị chớ có thiếu khai ngộ như thế.
Nói tóm lại
là phải giữ gìn giới luật. Phật tại thế thờ Phật làm
thầy, Phật chẳng tại thế lấy Giới làm thầy. Học Phật
thì chẳng được phạm giới luật. Ðã nói là chẳng được
phạm giới mà còn trộm cắp vặt ư? Chẳng giữ giới luật
làm sao học Phật được?
Hôm nay tôi
chỉ nói như vậy, chẳng thể nói nhiều. Hoàn toàn là
thường ngày trong lúc ăn uống, đứng ngồi phải luôn
luyện tập, lâu ngày chầy tháng quý vị thường luôn
luyện tập thì tự nhiên tạo thành thói quen nên sẽ
thành công. Thời gian kết Phật thất này chính là lúc
để kiểm nghiệm công phu ở nhà của quý vị như thế
nào. Ðến đây thí nghiệm xem quý vị có đắc Nhất Tâm
trong vòng bảy ngày này hay không? Nếu ở nhà đã
chẳng hề luyện tập thì đến đây làm sao đắc Nhất Tâm
được? Làm gì dễ dàng như thế được? Quý vị phải nhớ
đây là chuyện thực tế.
Thường ngày
luyện tập sẽ tập thành thói quen tự nhiên. (Khi đó)
chẳng cần đến chùa Linh Sơn dự Phật thất, ở ngay
ngoài đường cũng là đạo tràng vì đã quen rồi! Dù cho
đến đây dự Phật thất chẳng đạt Nhất Tâm thì cũng có
được tăng thượng duyên hỗ trợ cho mình. Dù công phu
của mình tệ bạc đến đâu, đến đây thấy ai nấy đều
niệm Phật, dù một mình ta không niệm, nhưng lắng tai
nghe thì cũng có hình bóng đức Phật in vô tâm mình.
Công đức ấy chẳng phải nhỏ. Chúng ta chưa nhận thức
được rằng: Dù chỉ là tăng thượng duyên cũng có đại
lợi ích vậy.
Nói tóm lại,
công phu hoàn toàn cậy vào sự luyện tập thường ngày,
tập quen sẽ tự nhiên thành tựu, tự nhiên làm được
thôi! Trong kinh Di Ðà nói các loài chim thuyết pháp,
quý vị vẫn chưa thấu hiểu sao? Cho đến khi nghe gió
thổi qua những cây báu cũng tự nhiên sanh tâm niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, đấy đều là tự nhiên cả.
Ðã quy về tự nhiên thì tự nhiên chẳng sợ gì hết, làm
bất cứ điều gì cũng là để lợi ích chúng sanh. Tâm
trên vì Phật pháp, dưới vì chúng sanh thì là đã
thành công rồi. Một mảy riêng tư trong tâm cũng
không có. Hãy nhớ kỹ điều này!
Hơn nữa, từ
ngày hôm nay trở đi, bao nhiêu tội nghiệp trước kia
hãy để cho chúng bị tiêu hóa hết trong tâm đi. Làm
thế nào để tiêu hóa? Chẳng tạo vạ mới nữa. Chẳng tạo
vạ mới tức là chẳng vun bồi những chủng tử cũ. Những
chủng tử ấy chẳng được tăng trưởng ra ngoài thì lâu
ngày chúng sẽ tự nhiên diệt đi. “Tùy duyên tiêu
cựu nghiệp” nghĩa là gặp phải sự việc bất hảo
liền gắng thay đổi hoàn cảnh. Như phần trên đã nói,
quý vị bắt buộc phải sát sanh không còn cách nào
khác, thì quý vị nên niệm Phật thay cho chúng nó.
Tâm quý vị chẳng có những việc xấu ấy, tùy theo
những sự việc xấu ấy mà biến cải tâm lý. “Tùy
duyên tiêu cựu nghiệp, cánh bất tạo tân ương” (tùy
duyên tiêu nghiệp, chẳng tạo thêm vạ mới) như vậy
thì sẽ thành công.
Tiếp đây, tôi
sẽ đọc qua bài kệ một lượt cho quý vị nghe. Ai thấy
được thì nhìn, không thấy thì nghe cũng vậy thôi.
“Tạp niệm
giai thị bình tố tội”:
Tạp niệm chính là vọng niệm khởi động. Chẳng phải là
quý vị muốn như vậy, nhưng vọng niệm chính là chủng
tử của tội nghiệp hiển hiện. Khi vọng niệm khuấy
động bên trong thì gọi là Ma. Thường ngày, khi nào
quý vị gây tạo tội nghiệp thì khi ấy vọng niệm phát
khởi .
“Nhược bất
tạo nghiệp niệm bất sanh”:
Quý vị chẳng tạo tội nghiệp thì vọng niệm chẳng sanh.
Vọng niệm chẳng sanh thì ý niệm nào khởi lên cũng là
tịnh niệm, “tịnh niệm tiếp nối”.
“Tùng kim
mạc thiết tái tạo nghiệp”:
Từ nay, lúc nào cũng là lúc mình niệm Phật. Từ nay
về sau đã chẳng tạo hết thảy nghiệp thì tại sao còn
nhiều phen tổn hại chúng sanh? Ðộ chúng sanh chẳng
phải là tổn hại chúng sanh. Mình tổn hại chúng sanh
trong xã hội thì còn học Phật cái nỗi gì? Tạo nghiệp
đều là làm hại người khác, ta chẳng nên tạo nghiệp.
“Nhất Tâm
Bất Loạn tự nhiên thành”:
Có vậy thì mới đắc Nhất Tâm Bất Loạn, tự nhiên thành
công. Nếu còn tạo nghiệp thì đạt Nhất Tâm sao nổi!
Nói đã nhiều
rồi, mỗi câu đều có đạo lý sâu xa. Trong thời gian
này, mọi người nên gắng đạt Nhất Tâm Bất Loạn. Niệm
Phật cầu Nhất Tâm Bất Loạn rất khẩn yếu. Tính đến
mai vẫn còn hai ngày, mọi người hãy suy nghĩ những
điều đó, về đến nhà cũng vẫn thực hành theo đó. Chư
vị đồng tu hãy buông xuống vạn duyên, niệm mỗi một
câu A Di Ðà Phật!
Trang 18
|
|
VII.
KHAI THỊ TRONG PHẬT THẤT NĂM TÂN DẬU
(đệ tử
Liên Thục Mỹ kính ghi)
Tính đến
nay đã là ba mươi năm mở Phật thất ở đây, mỗi
lần đều phải có người giảng nói. Theo quy củ,
phải thỉnh thiện tri thức trong Tịnh Ðộ Tông đến
khai thị. Khai thị chẳng phải là giảng kinh,
thuyết pháp, mà là nói về những điểm thật trọng
yếu, phải thuyết minh điều quan trọng là làm thế
nào để đạt Nhất Tâm. Chẳng đạt được Nhất Tâm thì
dù có niệm Phật vạn năm cũng chẳng thành công.
Nay tôi
chỉ là một gã bạch y, công phu cũng chẳng giỏi,
tuy từng gặp được các bậc đại đức trong Tịnh
Tông, gặp minh sư chỉ điểm, nhưng vì ngu độn,
chỉ có thể dựa theo lời tổ sư giảng, dựa dẫm các
ngài để giảng giải, chẳng dám xưng là giảng khai
thị.
Ba mươi
năm qua, ai giảng trong mỗi kỳ Phật thất? Toàn
là tôi giảng. Mỗi năm, đồng tu tham gia cũ mới
đều có, lời giảng cũng khác. Trong số đó, có
người đã từng nghe giảng suốt ba mươi năm qua,
nay lại giảng cái gì đây? Giảng nữa cũng vẫn là
những lời đó. Nghe qua rồi, bạn đồng tu chẳng
muốn nghe lại vì đều đã hiểu cả rồi. Thử hỏi có
ai làm được chưa? Nếu chưa làm được thì có giảng
vẫn là vô dụng.
Nay tôi
dựa theo khai thị của tổ sư để giảng. Tổ sư dựa
theo kinh điển mà kinh là từ miệng Phật nói,
pháp môn đều do Phật truyền, điều gì kinh không
nói thì tổ sư cũng chẳng dám tùy tiện đặt ra.
Nhưng Tam Tạng kinh điển quá nhiều, phàm phu
chẳng tiếp nhận hết nổi, chỉ có thể chuyên tu
theo một pháp môn. Chúng ta đều tu Tịnh Ðộ nên
tôi dựa theo pháp môn Tịnh Ðộ mà nói.
Có lẽ quý
vị nghi hoặc sao tôi không nói thẳng vào phương
pháp chứng đắc Nhất Tâm? Ðó là vì hiện tại mọi
việc đều chẳng bình thường, chẳng đúng lẽ, đều
suy thoái cả. Có người bảo bây giờ náo nhiệt hơn
trước, sao lại bảo là suy thoái? Nói đến Nhiệt
thì toàn thân mướt mồ hôi, lòng đầy phiền muộn,
Náo là lộn xộn bảy tám tầng. Nói đến tu Tịnh Ðộ
thì phải đắc Nhất Tâm Bất Loạn mới có thể vãng
sanh, nếu náo nhiệt thì làm sao đạt Nhất Tâm
được? Vì vậy mới bảo là suy thoái.
Mọi người
là bạn già của tôi, đã niệm Phật ba mươi năm rồi,
sau này nếu như mọi người chẳng đạt được kết quả
tốt là tôi có lỗi đối với mọi người. Cổ nhân nói:
“Thiên nhân ngật phạn, nhất nhân hoàn tiền”
(ngàn người ăn cơm, một người trả tiền). Kết
thất niệm Phật, đông người tham gia, phí tổn
cũng nhiều. Nếu như chẳng có kết quả gì lại là
tạo tội nghiệp, hết thảy tội lỗi người giảng
khai thị phải gánh. Nếu như trong đây có một ai
phát chân tâm, đạt được Nhất Tâm, sau này vãng
sanh thì coi như là người ấy đã bồi hoàn phí tổn
cho đạo tràng này rồi. Ngày hôm nay khác với năm
ngoái, xin quý vị phải chú ý tột bực, nghĩ đến
vãng sanh thì ắt sẽ niệm đến mức Nhất Tâm, đừng
có ồn náo vô ích.
Chư vị tu
hành hơn ba mươi năm. Cổ nhân nói: “Thuyết
đắc nhất trượng, bất như hành nhất xích”
(nói một trượng không bằng làm được một thước).
Nói nhiều vô dụng, cần phải thật tu mới nên.
Kinh điển rất nhiều, nhưng hiểu được vạn pháp
chẳng bằng hiểu kỹ một pháp, bởi lẽ bất luận như
thế nào cũng đều phải y theo một môn tu hành mới
hòng thành công được. Dùng bất cứ câu nào trong
kinh cũng đều chứng quả được, nhưng vạn câu kinh
chẳng bằng một câu Phật!
Có lẽ mọi
người không tin điều này, vì thường có bạn đồng
tu đến hỏi tôi cần phải niệm thêm bộ kinh nào?
Bộ kinh nào cũng tốt vì đều là lời Phật dạy cả.
Nếu như khóa sáng mỗi ngày tụng hết cả Tam Tạng
mười hai bộ kinh thì công đức rất lớn, nhưng xưa
nay, ngay cả các vị tổ sư cũng chưa ai có thể
niệm hết trong một buổi sáng được. Sáu chữ trong
một câu Phật hiệu, tôi chỉ hiểu nổi ba chữ, hiểu
biết mới được một nửa như vậy mà đã có thể giảng
suốt ba mươi năm. Quý vị lợi căn nếu hiểu được
bốn chữ thì ắt sẽ thành tựu.
Vì sao
một câu Phật hiệu lại có hiệu quả lớn đến thế?
Vì kinh do Phật nói ra, Tăng do dựa vào kinh mà
có. Ðã vãng sanh rồi vẫn phải niệm Tam Bảo. Phật
đứng đầu Tam Bảo. Vì vậy, hiểu được một câu Phật
hiệu là thành công. Kinh Di Ðà dạy: “Chẳng
thể dùng chút thiện căn, phước đức nhân duyên để
được sanh về cõi kia”. Niệm Phật là trồng
thiện căn. Cây có gốc mới có thể sanh trưởng; có
thiện căn thì mới có thể khai hoa, kết quả.
Những điều này trước đây tôi đã giảng qua, nhưng
chỉ là diễn giảng cách khác.
Ai cũng
niệm kinh Di Ðà, nhưng vẫn không hiểu. Vì lẽ gì
không hiểu? Là vì chưa có duyên khai ngộ. Trong
Tịnh Tông cũng cần phải khai ngộ. Không khai ngộ
thì là mê hoặc, điên đảo, nhưng muốn khai ngộ
phải là người có phước khí. Vì thế kinh
Di Ðà
nói: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước
đức nhân duyên”. Muốn khai ngộ thì phải tu
phước.
Phước đức
là gì? Kinh Di Ðà nêu ra ba mươi bảy Trợ Ðạo
Phẩm, điều này khá rắc rối, không phải ai cũng
làm được. Sau này, các tổ sư nói gọn lại là mười
thiện nghiệp, nhưng mọi người vẫn không hiểu,
nên lại phải nói pháp phương tiện là “tin sâu
nhân quả”; cốt yếu là “đừng làm các điều
ác, vâng làm các điều thiện”. Thiện ác chủng
loại rất nhiều. Nếu như giữ được năm giới cấm
căn bản, khởi tâm làm điều gì thì hết thảy đều
là vì công (chẳng tư tâm), đó là Thiện. Tâm
riêng tư cuồn cuộn thì là Ác. Trừ khử ba sự ác
căn bản là Tham, Sân, Si, làm gì cũng vì mọi
người thì là có phước đức.
Có phước
sẽ khai ngộ. Cổ nhân nói: “Phước chí tâm linh”,
nghĩa là: Phước đến, tự nhiên tâm nhanh nhạy,
vừa nói hiểu liền, giảng một câu hiểu đến tám,
mười câu. Vô phước thì tâm chẳng linh lợi, giảng
cả trăm câu còn chưa nghe hiểu được nổi một câu.
Học Phật cầu cảm ứng đạo giao, cảm ứng được Phật
thì gọi là “linh cảm”. Tâm hôn mê, trầm trệ làm
sao cảm ứng được Phật? Dù Phật có đến tiếp dẫn
vẫn chẳng chịu đi. Công phu phải tu tập hằng
ngày. Tu hành chẳng trở ngại đến nghề nghiệp dù
là nông, công, thương, công chức, y sĩ. Chỉ cốt
sao dùng tâm Bồ Ðề làm việc thì là Thiện, phước
chí tâm linh tự nhiên khai ngộ.
Ngày hôm
nay kết thất là đi dự thi, lúc bình thường khéo
công phu thì lúc kết thất khả dĩ đắc Nhất Tâm,
chứ chẳng phải là cứ rêu rao rằng bảy ngày liền
được Nhất Tâm, liễu sanh tử. Trong vòng trời đất
làm gì có chuyện thuận tiện đến thế? Uống cạn
một hơi chén trà còn chẳng dễ, huống là đại sự
liễu sanh tử! Hoàn toàn là do thường ngày luyện
tập. Tâm, Phật và chúng sanh là cùng một sự.
Trọn tấm lòng đều nghĩ đến mọi người, khởi ý
niệm nào cũng đều là Phật thì tâm chính là Phật.
Tâm chẳng niệm Phật, tơ tưởng toàn là những điều
xấu xa tạp nhạp, lộn xộn trong thế gian thì tâm
là phàm phu. Thành Phật hoặc làm phàm phu đều là
do tâm tạo. Tiếp theo đây, tôi sẽ giảng một bài
kệ để kết thúc:
“Phật
tại tâm trung mạc ngoại cầu”
(Phật ở trong tâm chớ ngoại cầu): Phật ở ngay
trong tâm quý vị, thành Phật hay thành chúng
sanh đều là do chính quý vị mà thôi. Tìm cầu đức
Phật bên ngoài là lầm lẫn. Câu này nói về thiện
căn, câu tiếp theo nói về phước đức.
“Tham
sân phóng hạ thị chân tu”
(tham, sân buông bỏ ấy chân tu): Tham, Sân, Si
là ba phiền não căn bản. Chẳng buông bỏ được
chúng để tu hành đúng như lời dạy thì chính là
nói dối người. Nếu như buông bỏ được chúng thì
mới là chân chánh tu hành.
“Niên
quang tam thập nãi như cựu”
(Ba mươi năm rồi vẫn như cũ): Phật thất tổ chức
ở đây đã ba mươi năm rồi, tôi cũng đã đến giảng
cả ba mươi năm. Mười năm đầu, người thành tựu
chẳng ít. Mười năm kế giảm bớt. Mười năm sau
chẳng được như trước. Năm nay tuy có ba người
hiện tướng lành vãng sanh, nhưng nói chung là
mỗi năm lại kém hơn năm trước, vẫn là y như cũ
chẳng tiến bộ gì. Sau này ai lại đến giảng trong
ba mươi năm nữa đây?
“Thế
Chí, Quán Âm đại phát sầu”
(Thế Chí,
Quan Âm cũng phát rầu): Chúng ta niệm
Phật tệ hại như vậy, chẳng phải chỉ mình Phật A
Di Ðà không cao hứng mà cả Bồ Tát Quán Âm, Thế
Chí cũng phải buồn giùm quý vị. Mỗi cá nhân quý
vị tu tập sao đây? Nếu chẳng khéo tu tập thì
thuyền từ phổ độ của Quán Âm Bồ Tát cũng chẳng
độ được quý vị. Thế Chí Bồ Tát dạy quý vị nhớ
Phật, niệm Phật, tịnh niệm tiếp nối, quý vị cũng
chẳng nghe. Hai vị Bồ Tát phải buồn thay cho quý
vị. Các Ngài buồn chuyện gì? Các Ngài thấy mình
có lỗi đối với Phật A Di Ðà, dạy học sinh thế
nào mà chẳng thành công chi hết? Hôm nay là
thánh đản đức A Di Ðà, các Ngài không có cách
nào bái thọ Phật A Di Ðà được hoàn toàn là do
lỗi của bọn ta.
Trang 19
|
|
XIII. LỜI TRẦN TÌNH CỦA CỤ TUYẾT TĂNG
(3)
NHÂN DỊP PHẬT THẤT NĂM NHÂM TUẤT
Kết Phật
thất tại đây đã hơn ba mươi năm. Mỗi lần kết
thất, học nhân đều đến đây giảng. Thoạt đầu, mỗi
ngày giảng một lượt, đem những sở học về phương
pháp Niệm Phật của chính mình cống hiến cho mọi
người, còn hai chữ “khai thị” chẳng đảm đương
nổi. Ba mươi năm qua, tôi đã nói rất nhiều về
pháp môn này cũng như cách niệm Phật, đều là bàn
về những kinh nghiệm của cổ nhân, chỉ cần chọn
lấy một điều để thực hành thì sẽ có thể thành
công.
Hiện tại
chính là thời kỳ Mạt Pháp. Tu các pháp môn khác
đều phải cậy vào tự lực để đoạn Hoặc, chứng chân.
Muốn đắc tiểu quả A La Hán cũng phải cả ngàn năm,
vạn năm, thật chẳng dễ thực hiện được. Chỉ có
mỗi Tịnh Ðộ là pháp môn Nhị Lực, tự lực chẳng đủ
thì Phật lực đến gia bị. Ðiểm đặc biệt nhất là
chẳng cần đoạn Hoặc, vẫn có thể cảm ứng đạo giao,
lúc lâm chung Phật liền đến tiếp dẫn, được vãng
sanh là thành tựu. Pháp môn này thành tựu ngay
trong đời này, nhưng điều khẩn yếu là “cảm ứng
đạo giao”.
Nếu chẳng
cảm ứng đạo thì chẳng thể thành tựu. Vì sao
chẳng cảm ứng? A Di Ðà như vầng trăng rạng ngời
trên không, tâm người niệm Phật giống như nước.
Nước phải trong lặng thì vầng nguyệt mới soi
bóng được. Ðấy là cảm ứng; có vậy thì mới có thể
tiếp dẫn vãng sanh. Nếu tâm chẳng thanh tịnh
giống như nước đục ngầu, vầng trăng chẳng hiện
bóng được. Ðấy chính là chẳng cảm ứng, dù A Di
Ðà Phật ở ngay trước mắt cũng chẳng vãng sanh
được.
Làm thế
nào để cảm ứng? Ðấy chính là điểm khác nhau giữa
kết thất niệm Phật và niệm Phật ở nhà. Ðến đây
rồi thì tâm gì cũng buông xuống hết, một lòng
niệm Phật, ở nhà đâu có làm như vậy được. Kinh
Di Ðà chuyên giảng về chấp trì danh hiệu, sáu
chữ hay bốn chữ Phật hiệu, một ngày, hai ngày
hoặc là bảy ngày, chỉ mong sao có ngày niệm đến
Nhất Tâm, tâm thủy lặng trong, cùng Phật cảm ứng,
đấy mới kể là thành tựu, lúc lâm chung mới bảo
đảm. Nếu chẳng làm được như vậy thì kết thất
cũng uổng công, khác gì niệm Phật tại nhà đâu.
Nói đến
Nhất Tâm thì trong ngàn vạn người khó có được
một ai hiểu rõ. Chẳng hiểu thì sao mà làm được?
Dù có làm được cũng sợ là chẳng biết [mình có
thể làm được]. Vậy thì làm sao đây? Ðạo lý này,
tôi là kẻ phàm phu hoàn toàn chẳng biết gì. Tuy
nhiên, trong Phật thất chẳng thể giảng kinh nên
tôi chỉ dựa theo nghĩa kinh và lời giảng giải
của chư tổ sư để trình bày cùng quý vị.
Kinh Di
Ðà nói: “Nhất Tâm Bất Loạn”, thế nào là
Nhất Tâm? Lời tục nói: “Tâm vô nhị dụng”.
Dụng tâm là khởi ý niệm tính làm chuyện gì đó.
“Vô nhị” nghĩa là khi ý niệm phát ra ngoài thì
giống như vết kim đâm rất nhỏ, chỉ có thể lọt
qua một sự, chứ hai sự chẳng lọt được. Khi ý
niệm đi vào trong tâm cũng giống hệt vậy. Chỉ có
một ý niệm lọt vào được nhưng rất nhanh, rất nhỏ.
Trong khoảng khảy ngón tay, có sáu mươi sát na.
Mỗi sát na có 110 ý niệm, toàn là do nơi mình
giác ngộ. Hễ giác ngộ thì sẽ khéo làm được. Các
tông khác chẳng cho phép khởi ý niệm, mà phải
đạt đến vô niệm, rất là khó. Tịnh tông chẳng sợ
khởi niệm, chỉ sợ hay biết chậm. Càng khởi càng
niệm. Niệm gì? Niệm A Di Ðà Phật. A Di Ðà mà
ngừng một chút thì ý niệm xấu bèn hiện lên ngay.
Nếu “tâm vô nhị dụng” (tâm không khởi lên
ý niệm nào khác) thì mỗi niệm khởi lên đều là A
Di Ðà Phật, cũng không niệm điều gì khác. Ðó
chính là Nhất Tâm.
Lâm chung
Phật đến tiếp dẫn. Tiếp dẫn cái gì? Chẳng phải
tiếp dẫn cái túi da thối tha này, cũng chẳng
tiếp dẫn vọng niệm, mà là tiếp dẫn cái tâm niệm
Phật. Vừa mới khởi vọng niệm liền tạo thành
chướng ngại, dù Phật ở ngay trước mắt cũng vẫn
có chướng ngại. Tâm mình cùng Phật quang chẳng
chiếu rọi lẫn nhau được nên chẳng thể cảm ứng
đạo giao, nên chẳng phát sanh hiệu lực. Vì vậy
phải niệm cho đến Nhất Tâm. Lâm chung “tâm chẳng
điên đảo” thì liền được vãng sanh thế giới Cực
Lạc của Phật A Di Ðà.
Ðến đây
kết thất niệm Phật mà chẳng hiểu rõ đạo lý này
thì có khác gì niệm Phật ở nhà. Nếu như ở nơi
đây, tuy miệng niệm Phật, nhưng tâm vẫn nghĩ đến
chuyện khác thì hỏng rồi. Ngay trong lúc niệm
Phật, tâm vừa nghĩ tưởng đến phú quý liền chẳng
thể ra khỏi lục đạo, luân hồi, thân sau sẽ sanh
lên trời. Hễ nghĩ đến gia đình thì gia đình
chẳng phải là Tây Phương, tương lai sẽ lại làm
người. Vừa nghĩ đến mình hay hơn người khác, ôm
lòng ngã mạn, thân sau chỉ e vào trong đường Tu
La. Nếu một mặt niệm Phật, một mặt vẫn sanh khởi
ba độc Tham, Sân, Si thì tương lai sẽ đọa làm
hung thần. Nếu lại tham đắm thức ăn thì thân sau
đọa làm loài quỷ đa tài
(4).
Nếu lúc niệm hôn trầm mà chẳng hay biết thì
tương lai sẽ đọa vào súc sanh. Nói chung đều là
tương ứng với lục đạo, chẳng đến được Tây Phương.
Nhưng
người niệm Phật do công đức niệm Phật chẳng đọa
địa ngục, chẳng biến thành ngạ quỷ, chẳng làm
thân súc sanh hạ đẳng. Dù sanh trong bất cứ loài
nào cũng đều hưởng phước, nhưng đến đời thứ ba,
do lúc chuyển thân, thần thức bị mê, công đức
niệm Phật chẳng thể hiện hành, chỉ e lại bị đọa
lạc rồi thọ tội.
Vì thế, ở
nơi này niệm Phật, phải nên buông xuống hết
thảy, khi niệm sáu chữ hoặc bốn chữ hồng danh
phải từ trong tâm phát khởi, tai nghe cho rõ
ràng, minh bạch, lại in vào trong tâm, đi ra,
trở vào, niệm sao cho thành một mối, nhưng chỉ
có loạn tâm là chưa buông xuống được. Ðến khi
Phật thất kết thúc, chẳng phải là về đến nhà
liền được vãng sanh đâu. Ở nhà lâu ngày, sáng
tối niệm Phật chừng hai tiếng đồng hồ, loạn tâm
lại xuất hiện thì cũng vô dụng. Vì thế phải gìn
giữ “tịnh niệm tiếp nối”. Ở đây làm như thế nào
thì về đến nhà cũng phải làm giống hệt vậy, tiếp
tục chẳng gián đoạn thì mới thành công được.
Tôi chỉ
giảng đến đây, phải nhớ kỹ mới bảo đảm được.
Tiếp đây, tôi nói một bài kệ để kết thúc:
“Ưng
tri tán loạn niệm Di Ðà”:
Mọi người phải biết: Nếu tâm tán loạn chẳng làm
gì được nổi, cứ niệm Phật như thế thì sẽ ra sao?
“Không
phí công phu nan giải thoát”:
Công phu uổng phí, chỉ được phước báo, chẳng thể
vãng sanh, vẫn ở trong lục đạo luân hồi, rất khó
giải thoát.
“Nhân
sanh thọ mạng hô hấp gian”:
A, cứ tà tà mà niệm thì sao? Tà tà không được.
Kinh dạy: “Mạng người trong hơi thở”. Một
hơi thở ra không trở lại thì liền thành đời sau,
chớ tu hành lơ là.
“Nhất
thất cơ duyên khổ vạn kiếp”:
Hiện tại, cơ duyên rất hiếm. Hễ bỏ lỡ cơ hội,
nhân duyên ắt sẽ thọ khổ. Thọ khổ như thế nào?
Luân chuyển trong lục đạo, khó ra được nổi. Ngàn
kiếp, vạn kiếp mới có lại được thân người. Tám
ngàn năm sau là thời kỳ pháp diệt, chẳng còn có
Phật pháp, khác nào Bắc Câu Lô Châu, khó được
giải thoát. Tám ngàn năm là còn sớm đấy. Người
thọ trăm tuổi, khi thọ báo hết chẳng vãng sanh
Tây Phương, sẽ sanh về chỗ tốt đẹp trên trời.
Tầng trời thứ nhất là Tứ Vương Thiên, thọ mạng
năm trăm năm. Một ngày đêm trên trời đó bằng năm
mươi năm dưới thế. Ở trên trời hưởng mấy vạn năm
phước trời, khi đọa xuống nhằm thời kỳ Pháp Diệt,
chẳng có Phật pháp, sống sống chết chết chẳng hề
được nghe Phật Pháp, chẳng ra khỏi tam ác đạo
nổi, thọ khổ vạn kiếp.
Trang 20
|
|
IX.
DAO BÉN CẮT DỨT MỐI TƠ LOẠN
(Ðệ tử
Hoàng Khiết Di kính ghi)
Người
trong cõi đời, từ xưa không ai tránh khỏi một
lần chết. Dù là bậc thế gian thánh nhân, đến lúc
vẫn cứ phải chết như thế. Chỉ có bậc thánh nhân
xuất ly thế gian mới giải quyết được vấn đề sanh
tử. Nhưng Ðức Phật cũng chẳng thể ngay trong một
đời liền thành Phật, mà phải do tu hành từng
bước mới chứng được Phật Quả. Cho nên nói:
“Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, chẳng tu chẳng
đắc”. Vì thế, quý vị phải tin là ai cũng
phải chết, chỉ sợ “chết không được thôi!” vì sau
khi chết đi, ắt sẽ luân hồi trong lục đạo, nhưng
trong sáu đường, khó đạt được cõi trời, người,
đọa lạc trong tam đồ thì khổ chẳng thể nói xiết.
Duy Thức
Tông lập ra cái gọi là “Tam Lượng”. Chữ Lượng có
nghĩa là “phân thốn” (phân, tấc, ý nói đo đạc),
“đong” hoặc “cân”. Vật phẩm phải dùng cái cân để
cân lường thì mới có tiêu chuẩn làm cơ sở để xác
định. Còn như trong việc phân biện giữa các giáo
thì lấy gì để chiết trung (chọn lọc lấy những
điểm hay, đúng)? Phải dùng Thánh Ngôn Lượng, tức
là phải dùng lời Phật dạy làm tiêu chuẩn để đo
lường. Có đáp án chánh xác như thế thì tu hành
mới có cơ sở để dựa vào. Bây giờ so sánh xem
chuyện tu Tịnh Ðộ của mọi người là đúng pháp hay
chẳng đúng pháp. Nếu tu đúng pháp thì là Tịnh Ðộ
Tông, tu chẳng đúng pháp thì là “loạn ty vô
đầu” (tơ rối tung không thấy đầu mối).
Chúng ta
là đạo tràng Tịnh Ðộ, phải nghĩ kỹ đến tận cùng
chữ Tịnh. Người tu hành chẳng đến đạo tràng để
cầu náo nhiệt, mà là cầu công đức và thiện căn.
Một câu A Di Ðà Phật là thiện căn lớn nhất. Chỉ
cần quý vị niệm đến tâm tịnh thì là sống trong
Tịnh Ðộ. Nếu trong tâm chẳng tịnh, loạn tạp lung
tung thì chính là “loạn ty vô đầu” như trên đã
nói. Tâm loạn như vậy thì lúc thế này, lúc thế
khác, chẳng thể đạt được lợi ích chân thật.
Vì thế
tham dự Phật thất cầu Nhất Tâm Bất Loạn thì phải
niệm niệm đặt nơi Phật hiệu, có vậy mới có thể
vãng sanh. Nếu không, suốt ngày niệm kinh này,
niệm kinh kia, không có chút trình tự tu tập nào
thì chính là “loạn ty vô đầu”. Nếu quý vị thật
sự tin tưởng vào sáu chữ hồng danh thì mới chứng
được quả vị. Chẳng tin thì dù có niệm rách họng
cũng uổng công!
Cầu Nhất
Tâm Bất Loạn chính là Thánh Ngôn Lượng từ kim
khẩu của Phật, là điểm trọng yếu của Tịnh Tông,
có vậy mới có thể đới nghiệp vãng sanh. Nghiệp
là nghiệp lực, nghiệp do mình tạo thì thân mình
phải mang lấy, đó chính là phiền não. Chỉ cần
chế phục được phiền não thì sẽ được vãng sanh,
đoạn sạch sanh tử thì mới gọi là Niết Bàn. Ðấy
đều là những điều Phật dạy. Nếu hoài nghi lời
Phật dạy, cho là sai lầm thì còn học Phật để làm
gì?
Tiếp đây,
tôi giảng một bài kệ để kết thúc:
Lục tự
dĩ ngoại giai phi nhất,
Nan dữ
Di Ðà cảm ứng thời
Thánh
lượng thị Phật thân khẩu thuyết,
Nguyện
nhữ khoái đao đoạn loạn ty!
Tạm
dịch theo ý:
Mình danh
hiệu Phật là thuần nhất,
Niệm Phật
tán loạn khó cảm thông,
Thánh
lượng chính miệng đức Phật dạy,
Mau dùng
dao bén chặt tơ rối.
|
“Lục tự”
là “Nam mô A Di Ðà Phật”. Ngoại trừ niệm sáu chữ
này ra, tất cả những thứ khác đều chẳng thuần
nhất. Nếu quý vị niệm Phật nhưng tâm mơ tưởng
chuyện khác thì sao? Tâm chẳng trụ vào sáu chữ
hồng danh sẽ khó cảm ứng Phật. Chữ “loạn ty vô
đầu” là tiếng cổ, là Thánh Ngôn Lượng. Một cục
tơ rối, không hề có đầu mối gì hết, gỡ bao giờ
mới xong? Xin quý vị cầm con dao bén chặt ngay
cho nó đứt đôi ra, tức là Nhất Tâm rồi, chẳng
còn loạn nữa.
Kinh Di
Ðà nói rõ thế giới Cực Lạc được trang nghiêm bởi
vàng, bạc, lưu ly, xích châu, mã não... Ðấy đều
là lời Phật nói. Nếu quý vị không tin, chỉ thích
nói là đất phủ cỏ xanh thì cứ việc tùy tiện. Ðã
tin vào Tịnh Ðộ Tông rồi thì phải biết điều tối
khẩn yếu hoàn toàn là sáu chữ hồng danh. Ðừng có
nói sáu chữ này nông cạn. Nếu thật sự là kẻ giải
ngộ sâu xa thì thấy sáu chữ ấy sâu xa, giải ngộ
nông cạn sẽ thấy là nông cạn, hoàn toàn tùy
thuộc vào mỗi người thôi! Các đồng tu hãy mau
cầu Nhất Tâm, dao bén chặt tơ rối, lời Phật
chẳng dối đâu!
Trang 21
|
|
X.
KHAI THỊ TẠI PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM ẤT SỬU
(Ðệ tử
Ngô Bích Hà kính ghi)
* Dốc lòng
trừ mạn chướng, thiết tha cầu Nhất Tâm
Thưa các
vị lão sư, các vị đồng tu.
Hôm nay
tôi đến đây giảng, trước hết thanh minh một điều:
Tôi hoàn toàn không đến đây để giảng khai thị.
Hai chữ “khai thị” tôi đảm đương chẳng nổi, tôi
chỉ đem những kinh nghiệm của chính mình ra bàn
bạc để người này, người kia tham khảo mà thôi.
Tiếp đến,
thanh minh một câu nữa: trong lúc ngồi giảng ở
đây, xin miễn hết thảy những khách sáo thế tục,
chỉ nghiên cứu “Nhất Tâm Bất Loạn”. Người giảng,
người nghe đều lấy “Nhất Tâm Bất Loạn” làm mục
tiêu. Nếu không, bị phân tâm một phần thì chẳng
phù hợp với Phật thất vậy. Xin quý vị nhiếp tâm,
tâm không nghĩ gì khác lắng nghe!
Luận về
“Nhất Tâm” thì đây là một đạo tràng đã lâu, hẳn
quý vị hiểu rồi. Ðã hiểu rồi thì xin hỏi một
câu: “Quý vị đạt được hay chưa?” Hơn ba mươi năm
qua, có vị nào đạt được Nhất Tâm Bất Loạn chưa?
Nếu như năm nào cũng dự Phật thất nhưng năm nào
cũng tán loạn thì có phải là dự Phật thất trở
thành chuyện phù phiếm hay sao? Thế nhưng, người
học Phật làm gì cũng phải chân thật. Bài kệ khai
kinh có câu: “Nguyện giải Như Lai chân thật
nghĩa”. Việc hư dối thì có làm cũng vô ích.
Ðã vậy thì quý vị ắt sẽ tự hỏi: “Niệm đến Nhất
Tâm Bất Loạn trọn chẳng hề có ư?”
Tôi chẳng
rõ là trong số quý vị, hoàn toàn không có một ai
làm được chăng? Ngược lại, tự hỏi mình trước.
Với tôi thì Nhất Tâm Bất Loạn có thời gian nhất
định. Trong khoảng thời gian ngắn sẽ đạt Nhất
Tâm Bất Loạn. Nói như vậy ít nhiều đã có “cống
cao, ngã mạn”, tự mình khoa trương. Tiếp đây,
chúng ta sẽ bàn về “cống cao, ngã mạn”. Trong ba
mươi năm qua, tại nơi đây, dự Phật thất, tôi
giảng qua vấn đề này chẳng biết là đã bao nhiêu
lần, nhưng giảng rất nông cạn. Quý vị trong tâm
ngầm coi thường, nghĩ rằng: “Ông không cần phải
nói, những chuyện đó tôi từng nghe qua rồi!” Quý
vị ơi! Khó biết được chuyện nào mình đã thật sự
nghe qua lắm đấy! Nếu còn giữ tâm như vậy thì
chẳng đắc Nhất Tâm, mà là được cống cao, ngã
mạn, vẫn còn là phiền não. Nói như vậy nghĩa là
sao?
Quý vị
nghe kinh cũng nhiều, xem kinh chẳng ít, đáng
coi là bậc đa văn, nhưng chỉ hiểu được về mặt
văn tự, chứ xét về mặt công phu chân thực thì
chẳng đáng bàn tới. Luận đến chân lý “tâm,
Phật, chúng sanh bình đẳng bất nhị”, quý vị
đã hiểu được đạo lý này hay chưa? Nói đến Phật
thì chưa từng thấy qua. Nói đến chúng sanh thì
mọi người đều nghĩ là mình đã từng thấy qua chỉ
vì trong tâm nghĩ như thế này: “Người khác là
chúng sanh, còn mình chẳng phải”. Ðấy là cống
cao, ngã mạn. Học như vậy thì chỉ học được phiền
não, làm sao chúng ta luôn thấy “Phật, tâm,
chúng sanh là bình đẳng” cho được? Quý vị bề
ngoài bình đẳng nhưng trong tâm đa số chẳng bình
đẳng. Ðấy chính là đại phiền não!
Bàn đến
phiền não thì trong trăm pháp, Tham, Sân, Si,
Mạn, Nghi, Bất Chánh Kiến thuộc về căn bản phiền
não. Ngoài ra còn có trần sa phiền não, căn bản
vô minh. Ba loại này đều là bịnh ai nấy đều có,
ai nấy chẳng tự hay. Càng học Phật, niệm kinh
chẳng tự biết, phiền não càng nặng đều là do
quan niệm “tôi xem sách hoặc nghiên cứu kinh
chẳng ít”. Nhưng kinh giống như thuốc. Nếu như
uống lầm thuốc chẳng đúng bệnh, rốt cuộc có lợi
ích chi? Vì thế, chúng ta chẳng thể thành tựu
chính là do cống cao, ngã mạn. Tôi chẳng nói đến
những việc khác bởi chính cống cao, ngã mạn
khiến cho mọi người sau này thoái chuyển, làm
sao còn bàn đến chuyện đắc Nhất Tâm Bất Loạn
được nữa?
Nói như
vậy thì phải trừ khử cách nào mới nên? Phải
“trong tâm thật sự trống không, một niệm chẳng
khởi”. Ðấy là chân lý. Nguyên lai bổn tánh là
bất động, hễ động thì gọi tên khác là Tâm. Chúng
ta chẳng thường hay nói là “khởi tâm động niệm”
đó sao? Khởi tâm chính là khởi lên ý niệm. Một ý
niệm vừa khởi lên bèn có mục tiêu nên sẽ tạo
nghiệp. Tạo nghiệp sẽ phải lãnh quả báo. Thiện
nghiệp thì thiện báo, ác nghiệp thì ác báo. Các
báo thiện, ác lại chẳng thể triệt tiêu lẫn nhau,
làm gì phải chịu báo nấy. Giống như nay chúng ta
được báo ứng, so với ba ác đạo thì vẫn còn khá
hơn. Tuy vậy, chúng sanh gồm có cửu giới
(5),
nhân loại chỉ là một trong chín giới đó, vẫn chỉ
là tạm thời ngoi đầu lên trên biển khổ mà thôi.
Vẫn là nhiều đời, nhiều kiếp đến nay, chẳng biết
mấy khi làm lành, tạm hưởng được thiện báo.
Nói đến
thiện báo thì phải có được thân người thì mới có
thể giải thoát. Nếu chẳng được thân người thì
đừng nói chi đến chuyện hiểu Phật pháp, ngay cả
chuyện hiểu thông suốt những ngôn ngữ bình
thường đã khó khăn rồi: chim có tiếng chim, thú
có tiếng thú. Nói đến thiện báo được làm thân
người thì xét đến cùng là do tạo nghiệp nào mà
được, chỉ sợ chúng ta đều chẳng tự biết vậy.
Nói
chung, từ vô thỉ kiếp cho đến hiện tại, chúng ta
tạo nghiệp, lãnh báo, một bề biến hóa không
ngừng, vậy thì hiện tại chúng ta phải nên làm
gì? Trước khi xét đoán phương pháp, chúng tôi
xin minh định trước: Hễ có thân là phải có khổ.
Nếu không có cái thân tứ đại giả hợp này thì
không có chỗ nào để thọ khổ cả. Muốn tiêu tội
nghiệp thì phải bắt đầu từ đầu nguồn. Ðầu nguồn
chính là Tâm. Tâm không có hình dáng nhưng lại
chính là nguyên động lực lôi kéo chúng ta luân
lạc sanh tử. Chúng ta khởi tâm động niệm bèn tạo
nghiệp, nhiều đời nhiều kiếp chồng chất chẳng
biết là bao nhiêu.
Trong
kinh dạy: “Nếu như ác nghiệp có thể tướng thì
trọn cõi hư không chẳng thể chứa đựng nổi”.
Nghiệp nhiều như thế đấy. Chẳng cần nói đến kẻ
không siêng niệm Phật; đối với người khéo niệm
Phật, có phải là sẽ tiêu sạch được ác nghiệp từ
trần sa kiếp chăng? Chỉ e rằng chẳng đơn giản
như vậy. Ví như vầng Thái Dương chiếu xuống
tuyết, tuyết tan thành nước. Thế sao tuyết đọng
trên Tuyết Sơn suốt năm chẳng tan? Nào có phải
là mặt trời chẳng rọi xuống Tuyết Sơn đâu! Lời
tục nói: “Băng đóng ba thước, chẳng phải là
trời lạnh một ngày”. Chỉ đơn độc cậy vào sức
mình, làm sao đạt được “tâm không?” Làm sao tiêu
trừ tội nghiệp được? Nói như thế thì nhất định
phải nhờ cậy (sức Phật). Ðấy chính là Nhị Lực.
Ðiều thứ
hai là chữ Nhị Lực chẳng phải chỉ nói về hai lực
ấy, mà còn hàm chỉ nhiều thứ. Chẳng hạn như
trong đạo tràng này có rất nhiều người, nhưng ta
cũng có thể nói là có hai loại người. Một là
giảng, hai là nghe. Vì thế chỉ nói “hai” nhưng
đã bao gồm người giảng, người phiên dịch, người
nghe, người lo liệu công việc... biết bao là
thứ. Vì thế chữ “Nhị” còn hàm ý “rất nhiều”.
Trong
kinh A Di Ðà, mười phương chư Phật đều nói:
“Chúng sanh các người đều nên tin vào kinh Khen
Ngợi Công Ðức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Ðược Hết Thảy
Chư Phật Hộ Niệm này”. Phật nói với Bồ Tát,
Bồ Tát lại đem lời ấy tuyên thuyết, lần lượt lan
truyền rộng rãi như thế trùng trùng vô tận, rốt
ráo chẳng hề có kết thúc. Quý vị nghĩ xem, nghĩ
đến cùng là nhiều hay không nhiều vậy? Vì thế,
sức của ác nghiệp cố nhiên là to, nhưng sức của
mười phương chư Phật cũng rất to. Do mười phương
Phật đến giúp ta tiêu nghiệp thì sợ gì chẳng
thành tựu cơ chứ?
Kinh A Di
Ðà dạy: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân
nghe kinh này mà thọ trì và nghe danh hiệu chư
Phật thì các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều
được hết thảy chư Phật hộ niệm”. “Niệm” có
nghĩa là trong tâm Phật có mình. Tâm Ngài đã có
mình thì nếu mình có chuyện gì, các Ngài sẽ đến
giúp cho. Ðấy là “Hộ”. Nói như vậy có phải là
chúng ta cứ ngồi chờ Phật đến rước chăng?
Phật giáo
Nhật Bản có một tông phái mệnh danh là Chân Tông
chuyên giảng về nguyện thứ 18 trong 48 nguyện
của Phật A Di Ðà, cho rằng chỉ cần tin vào Phật
thì Phật sẽ đến tiếp dẫn vãng sanh. Thật ra làm
gì tiện lợi như vậy! Cầu Phật đến tiếp dẫn phải
có đủ Tín - Nguyện - Hạnh mới cảm ứng được!
Thế nào
là Cảm Ứng? Giống như quý vị niệm Phật ở nơi đây
(không phải là xướng Phật) thì Niệm chính là Tâm
của quý vị, tâm quý vị khởi niệm nơi Phật thì
Phật hộ niệm quý vị. Hai bên hòa hợp, đó là Cảm
Ứng. Nhưng niệm Ðức Phật nào? Niệm A Di Ðà Phật.
Nếu một mặt vừa niệm Phật A Di Ðà, một mặt lại
niệm Phật Dược Sư, tự cho rằng “đằng nào cũng là
niệm Phật” thì lại là lầm mất rồi, sẽ chẳng được
cảm ứng.
Quý vị
xem đây: hai bàn tay tôi vỗ vào nhau phát ra
tiếng. Ðấy là một loại âm thanh. Dùng tay vỗ lên
bàn thì lại là một loại âm thanh khác. Hai loại
khác nhau. Vì thế, đức Thích Ca Mâu Ni Phật dạy
quý vị niệm A Di Ðà Phật thì quý vị niệm A Di Ðà
Phật, chỉ nên tuân theo Thánh lượng thì mới được
lợi ích!
Tiếp đây,
tôi đem các phương pháp dạy niệm Phật của chư Tổ
Sư tặng cho quý vị. Nếu thật có thể hành đúng
như pháp thì sẽ có thể chế phục Hoặc, đạt được
Giả Nhất Tâm (Nhất Tâm có hai loại: Lý Nhất Tâm
là chân lý, Sự Nhất Tâm thuộc về tướng trạng bên
ngoài, là phương tiện. Vì thế, Sự Nhất Tâm còn
được gọi là Giả Nhất Tâm), sau rồi sẽ được vãng
sanh.
“Niệm
Phật bất tất cầu đa niệm”:
Niệm Phật chẳng cần phải niệm cho thật nhiều.
“Ðản
niệm bát bách tâm bất loạn”:
Niệm một xâu chuỗi 108 tiếng sao cho dù một chữ
cũng chẳng loạn.
“Kỳ
trung trước hữu nhất niệm sai”:
Trong 108 câu niệm ấy, nếu như có một câu niệm
lầm lẫn.
“Trạo
chuyển châu đầu đô bất toán”: Những câu niệm
từ đầu xâu chuỗi tính đến câu sai ấy đều không
tính nữa. Câu này rất khẩn thiết. Có một điểm
cần phải chú ý là: “Tự niệm, tự nghe”. Lúc niệm
phải niệm sao cho rõ ràng, tách bạch. Lúc nghe
cũng phải nghe sao cho phân minh, rành rẽ. Hễ
niệm sai một câu thì phải niệm lại từ đầu. Lúc
quý vị thực hành công khóa chánh, nên làm theo
đúng phương pháp đã dạy trong bài kệ này để hòng
cầu được “Nhất Tâm Bất Loạn”. Còn như lúc tán
niệm (niệm Phật ngoài thời công khóa chánh) thì
có thể tùy duyên.
Hiểu rõ
những điều trên đây rồi thì không cần phải mất
công nói nhiều nữa, cứ chiếu theo đó mà làm là
được. Tiếp đây, tôi dùng một bài kệ để tổng kết
lại:
“Vạn pháp tinh hoa lục tự bao,
Thánh ngôn chân lượng bạt tâm
mao,
Trì danh dung dị nan trừ mạn,
Vô giá bảo châu tùng thử phao”
|
“Vạn
pháp tinh hoa lục tự bao”:
Phật pháp vô biên, Trung Quốc gọi là Tam Tạng (nhưng
thật ra còn rất nhiều kinh chưa được phiên dịch
[sang tiếng Hán]), gọi chung là “vạn pháp”. Chữ
“tinh hoa” chỉ tinh thần chân chánh
(của vạn
pháp), cũng có nghĩa là những lời trọng yếu. Chỉ
niệm sáu chữ là đã bao quát cả Tam Tạng 12 bộ
kinh, cũng có thể nói là đã hiểu được Tam Tạng
mười hai bộ kinh rồi thì mới hiểu được sáu chữ
“Nam mô A Di Ðà Phật”. Nếu chẳng thể niệm hết
toàn bộ kinh tạng thì niệm sáu chữ cũng giống
như niệm hết toàn bộ kinh tạng vậy.
“Thánh
ngôn chân lượng bạt tâm mao”:
Vì sao nói là sáu chữ bao gồm trọn vẹn Tam Tạng?
Quý vị phải chân chánh dốc lòng niệm sáu chữ này,
tâm chẳng chạy theo bên ngoài thì sẽ mau chóng
được khai ngộ. Thế nhưng, quý vị đã khai ngộ
chưa? Chưa. Vì sao chưa? Là vì tâm nhãn quý vị
bị cỏ tranh (mao thảo) che lấp cho nên chẳng thể
mở ra được. Hiện tại, ta tuân theo Thánh Ngôn
niệm sáu chữ này chính là nhổ bật cỏ tranh che
lấp để tâm nhãn được rộng mở.
“Trì
danh dung dị, nan trừ mạn”:
Chữ “danh” chỉ danh hiệu A Di Ðà Phật. “Trì” là
nắm giữ, chẳng buông bỏ, mà cũng là niệm. So với
niệm kinh, trì danh dễ dàng hơn, nhưng vẫn có
chỗ khó khăn. Tức là còn cống cao, ngã mạn, tự
cho rằng: “Tôi làm rồi, tôi hiểu rồi”. Hễ có cái
căn bản phiền não này thì sẽ chẳng thành tựu.
Học Phật thì bước thứ nhất là Vô Ngã. Có Ngã thì
cũng vãng sanh, nhưng tiếc là vãng sanh trong
lục đạo, vĩnh viễn chẳng giải thoát. Vì thế,
muốn được giải thoát thì trước hết phải trừ Ngã
Mạn. Trừ bằng cách nào? Nhà Phật có nói đến Lục
Hòa Hợp, hết thảy đều bình đẳng. Nhưng Ngã Mạn
rất khó trừ.
“Vô
giá bảo châu tùng thử phao”:
Nếu chẳng trừ Ngã Mạn thì khác nào xem thường
ném bảo châu vô giá Tam Bảo đi.
Ở nơi
này, chư vị hãy thử thí nghiệm phương pháp vừa
nói trên đây, hết thảy đều buông xuống hết, chỉ
cầu Nhất Tâm thôi!
Trang 22
|
|
XI.
KHAI THỊ PHẬT THẤT NĂM CANH THÂN TẠI CHÙA LINH SƠN
(Ðệ tử
Hoàng Vịnh kính ghi)
Thưa chư
vị lão sư, chư vị đồng tu.
Phật thất
chùa Linh Sơn đã được duy trì hơn ba mươi năm,
mỗi năm tôi đều tham gia. Trước kia, lúc Chính
Phủ chưa đến Ðài Loan, Phật giáo tỉnh này vẫn
còn chưa phát triển. Dù có chùa, miếu, nhưng đại
đa số chỉ để tự tu, chẳng chú ý mấy đến việc
hoằng pháp lợi sanh. Những việc hoằng pháp lợi
sanh như Phật thất v.v... thực sự do chùa này
khởi xướng. Lần Phật thất này, những bạn đồng tu
mới nhiều hơn cựu đồng tu. Lời giảng của tôi khó
thể thích hợp với các loại căn cơ. Vì thế lần
giảng này dựa trên nguyên tắc cốt sao cho các
bạn tân đồng tu hiểu được, mong các cựu đồng tu
từ bi tùy duyên nghe giảng.
Phật thất
ở nơi này là Phật thất của Tịnh Ðộ Tông. Nói đến
Tịnh Ðộ tông thì ai ai cũng biết cả vì nó quá
phổ biến, nhưng thực sự thì rất ít người hiểu rõ
nội dung Tịnh Ðộ tông. Chẳng phải chỉ người
ngoài không biết, ngay cả trong cửa Phật, những
người hiểu rõ Tịnh Ðộ tông cũng chẳng nhiều.
Thậm chí người đang tu Tịnh Ðộ tông cũng chẳng
hiểu rõ lắm! Ở đây, tôi phải thanh minh trước:
hôm nay, tôi không đến đây để khai thị mà chỉ
đến trò chuyện. Vì người hiểu đúng Tịnh Ðộ tông
quá ít, nên tôi chỉ tường trình lại theo đúng
kinh điển, lời giảng của chư Tổ mà thôi.
Tại gia
tu hành công phu chẳng thể rốt ráo hoàn toàn,
người xuất gia khéo tu tập có thể chứng được Tứ
Quả A La Hán. Ở đây, tôi chẳng bàn đến người tại
gia. Muốn chứng Tứ Quả A La Hán phải trải qua
một thời gian lâu chừng mấy ngàn năm. Luận về
người đời sau sẽ chứng được Sơ Quả thì trong
mười vạn người chẳng dễ tìm được một người. Dù
có chứng quả A La Hán đi nữa thì cũng chỉ hiểu
được phương pháp để chứng quả La Hán, chứ đối
với pháp môn Tịnh Ðộ cũng chẳng thể hiểu được dễ
dàng. Ðấy chính là điều được nói trong kinh, chứ
chẳng phải chính tôi bịa ra. Nếu kinh Phật không
chép thì dù một câu tôi cũng chẳng dám nói.
Ai hiểu
được pháp môn Tịnh Ðộ? Quả vị Bồ Tát có năm mươi
hai địa vị. Hàng Bồ Tát trước khi chứng quả
trong Thập Ðịa, còn thuộc vào Hiền Vị, vẫn chưa
hiểu được. Những vị nào đã chứng quả trong Thập
Ðịa thì gọi là Thánh Vị, cũng chỉ hiểu được một
nửa. Phải là thành Phật rồi mới có thể hiểu
triệt để pháp môn Tịnh Ðộ. Chỉ có Phật với Phật
mới hiểu thấu cùng tận. Mọi người nghe đến đây
phải đặc biệt chú ý: Quý vị được nghe danh hiệu
Phật, tu được pháp môn Tịnh Ðộ thì ắt là trong
ngàn đời, vạn kiếp đã trồng đại thiện căn, làm
đại thiện sự thì mới đạt được như vậy. Nhưng nếu
đã biết pháp môn Tịnh Ðộ thù thắng thì phải dụng
công tu trì, có tu mới thành công, không tu
không thành công.
Có người
chưa nghe nói đến Tịnh Ðộ, cũng chẳng hiểu Tịnh
Ðộ là cái gì, tự mình chẳng biết, nếu miệng
chẳng khích bác thì không tạo tội. Nhưng nếu
chẳng hiểu Tịnh Ðộ là pháp khó tin, lại tự lầm
tưởng mình là thông minh, hủy báng pháp môn Tịnh
Ðộ thì là không được. Bởi lẽ, hủy báng Phật pháp
chính là gây tội tam đồ, thế nhưng hủy báng pháp
môn Tịnh Ðộ lại chính là tội Vô Gián địa ngục!
Quý vị phải nên đặc biệt chú ý cẩn thận. Tịnh Ðộ
Tông là pháp khó tin, rất sâu xa, chỉ mình đức
Phật mới có thể hiểu triệt để. Ngoài ra, phải là
hạng đã chứng Bát Ðịa Bồ Tát mới hoàn toàn tin
nhận được thôi. Chúng ta chẳng hiểu, chẳng tin
thì càng phải đặc biệt lưu ý, ngàn muôn phần chớ
tạo tội nghiệp.
Nếu pháp
môn Tịnh Ðộ chỉ riêng Phật với Phật mới có thể
hiểu thấu tột cùng thì sao Ðức Phật lại đem pháp
khó tin, khó hiểu này phổ biến, dạy chúng sanh
tu trì? Tôi cũng chẳng đáp thông được, chỉ dẫn
lời Phật để đáp. Hết thảy các pháp môn khác
chung cục đều nhằm để thấu triệt bất sanh, bất
diệt, liễu sanh thoát tử. Các tôn giáo trên toàn
cầu tu đến mức cao nhất thì chỉ sanh lên trên
trời, chỉ riêng mình Phật giáo có thể liễu sanh
thoát tử. Nhưng nói chung tu các pháp môn trong
nhà Phật đều phải chịu khổ lớn như thường nói:
“Chẳng mắc ma nạn thì chẳng thành Phật”.
Ða số người tu hành chẳng chịu nổi đại khổ, đấy
là một điều khó khăn.
Hơn nữa,
thời gian tu tập rất dài, chứng quả La Hán đã
phải mất mấy ngàn năm. Phàm phu thọ mạng hữu
hạn, trong mấy mươi năm làm sao chứng quả được?
Lại phải tu tập từng bước, thành công thật chẳng
dễ dàng gì.
Tịnh Ðộ
tông tuy người người chẳng hiểu, nhưng có điều
cực thuận tiện là vì: A Di Ðà Phật chính là vị
Phật tiếp dẫn, thế giới Cực Lạc tuy cách xa mười
vạn ức cõi Phật, A Di Ðà Phật phát nguyện đích
thân đến tiếp dẫn. Trong mười phương tuy đều có
Tịnh Ðộ, đều có Phật và Bồ Tát, nhưng chưa từng
phát nguyện đến tiếp dẫn, mình có năng lực tu
đạt đến đó thì tự mình đi về đó nên chẳng dễ
thành tựu. Vãng sanh Cực Lạc thế giới thì có thể
thành tựu ngay trong đời này. Ðời người ngắn
ngủi mấy mươi năm, đầy đủ tư lương Tín Nguyện
Hạnh, lâm chung chánh niệm phân minh, Phật liền
cầm hoa sen đến tiếp dẫn. Ta liền ngồi lên hoa
sen sanh về Cực Lạc thế giới, dứt sạch sanh tử,
thật là thuận tiện quá sức. Ðiều này trong Tam
Tạng kinh điển đã nói tường tận, tu pháp môn
Tịnh Ðộ thù thắng là ở chỗ này.
Tu các
pháp môn khác thì cần phải “Tín, Giải, Hạnh,
Chứng”, hoàn toàn cậy vào tự lực, tu hành trong
một thời gian dài. Tu pháp môn Tịnh Ðộ dù đạo
lý chẳng dễ hiểu, nhưng chỉ cần Tín - Nguyện -
Hạnh là có thể thành tựu. Nếu không thì đừng nói
là tu hai, ba mươi năm chẳng hiểu được lý Tịnh
Ðộ, dù có tu năm trăm năm cũng chưa chứng được
quả La Hán, cũng vẫn chẳng hiểu được lý Tịnh Ðộ.
Kinh Hoa
Nghiêm nói Bồ Tát phải tu hành qua các địa vị
Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng.
Ðạt đến Thập Hồi Hướng mới hiểu được Phật lý,
mới hành bố thí triệt để được. Nhưng tu đến Thập
Hồi Hướng phải mất hai đại A Tăng Kỳ kiếp, thực
chẳng dễ chi! Nay tôi đối trước Ðức Phật thuyết
pháp, nếu nói nhầm một câu thì chính là hủy báng
Phật pháp, người thuyết pháp phải đọa địa ngục.
Tôi đã hơn chín mươi sáu tuổi, còn đến đây tạo
tội địa ngục làm gì? Tôi khùng như thế chăng?
Nói tóm lại, Tịnh Ðộ Tông thật chẳng dễ giải
thích, chẳng dễ hiểu gì.
Chúng ta
đã phát tâm tu hành, nếu chẳng tu hành thành
công thì chẳng đáng tiếc lắm sao? Muốn giải
thích Tịnh Ðộ cho rõ ràng chẳng dễ dàng gì, từ
Tổ Sư của Tịnh Ðộ Tông Trung Quốc là ngài Huệ
Viễn đại sư đời Ðông Tấn cho đến ngài Ấn Quang
đại sư thời Dân Quốc, những lời khai thị của các
ngài đều xuất phát từ kinh Phật. Kinh
Hoa Nghiêm
là vua các kinh, là vua của cả Tam Tạng, thế mà
trong phẩm cuối cùng, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười
đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Vì thế phải
biết rằng: Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đều
tu pháp môn Tịnh Ðộ, cầu sanh Cực Lạc thế giới.
Kinh dạy: “Ly kinh nhất cú, tức thị ma
thuyết” (nói sai khỏi kinh một câu, chính là
ma nói). Kinh Pháp Hoa cũng dạy: “Y pháp bất
y nhân” (nương theo pháp, chẳng nương theo
người). Chúng ta tu Tịnh Ðộ nương theo lời Phật,
có bằng chứng chân thật. Nếu không, dù ai có
danh tiếng lớn lao đến đâu mà lời nói chẳng phù
hợp với lời Phật, chúng ta cũng chẳng tin.
Vì sao
Tịnh Ðộ Tông chỉ nói Tín - Nguyện - Hạnh mà
chẳng nhắc đến Giải? Trong kinh cũng có thí dụ:
Dù cho bậc trí huệ đệ nhất là ngài Xá Lợi Phất,
khắp toàn thân đều có miệng, và lại có vô lượng
vô biên Xá Lợi Phất trong vô lượng vô biên kiếp
giảng giải đạo lý Tịnh Ðộ thì cũng chẳng thể
giảng trọn hết. Tôi vốn chẳng có năng lực ấy,
chỉ có một hai quyển kinh làm cơ sở, ngay cả
kinh A Di Ðà tôi cũng còn hiểu chưa hết. Trong
kinh ấy câu nào cũng đều là vô lượng vô biên bí
quyết trọng yếu để tu hành. Vì vậy, muốn thoát
sanh tử thì phải là kẻ đã liễu sanh tử mới chẳng
đến nỗi lầm lạc. Tịnh Ðộ Tông lấy Tín - Hạnh -
Nguyện làm cơ sở, chúng ta cứ chiếu theo đó mà
hành. Phật là bậc đã liễu sanh tử, Phật dạy như
thế nào, ta cứ tin như thế ấy, hành như thế ấy
ắt sẽ thành công. Nếu tự lầm cậy mình thông
minh, nhất định sẽ hiểu biết sai lạc vậy.
Trong Tín
- Nguyện - Hạnh, Tín là gì?
Thứ nhất,
tin rằng nếu không học Phật sẽ vĩnh viễn luân
hồi trong lục đạo, chẳng được giải thoát. Bất cứ
tôn giáo khác nào đều chẳng thực hiện được việc
này.
Thứ hai,
tin rằng học Phật thì phải mất ba đại a tăng kỳ
kiếp mới có thể thành Phật. Chỉ có pháp môn Tịnh
Ðộ trong thời gian ngắn liền có thể thành tựu
ngay trong đời này. Cổ đức nói: “Vạn người tu
vạn người đậu”. Kinh
A Di Ðà dạy: “Nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe kinh này mà
thọ trì và nghe danh hiệu chư Phật thì các thiện
nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được hết thảy chư
Phật hộ niệm, đều được chẳng thoái chuyển nơi Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Ðấy
chính là “vạn người tu, vạn người đậu”. Nhưng
chúng ta ở đây dù niệm Phật dăm ba năm cũng chỉ
là miệng niệm. Chỉ khi vãng sanh Tây Phương rồi
thì nghe chim, cây phát ra tiếng bèn niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng. Lý thâm áo này phàm phu
chẳng thể hiểu nổi, ngay cả bậc đã chứng Nhị Quả
cũng không cách nào hiểu rõ. Chỉ nên tin chắc
vào Thánh ngôn lượng chẳng nghi thì mới có thể
thành công.
Thứ ba,
tin sâu xa rằng chúng ta tu pháp môn Tịnh Ðộ,
quyết định sẽ thành tựu trong đời này, quyết
định “vạn người tu, vạn người đậu”.
Thứ tư,
tin rằng lúc vãng sanh, A Di Ðà Phật nhất định
đến trước mình tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc thế
giới. Tin sâu rằng đã tu pháp môn Tịnh Ðộ thì
phải chấp trì danh hiệu chẳng buông. Từ nay sanh
lòng tin sâu xa chẳng nghi, đến chết cũng chấp
trì danh hiệu chẳng buông, dù cho bom nguyên tử
có rớt xuống cũng chấp trì chẳng bỏ thì mới
thành công vậy.
Hiện giờ
tôi thấy tình huống của quý vị rất tốt, rất phù
hợp với những điều được dạy trong kinh
A Di Ðà.
Kinh dạy: “Ðều được chẳng thoái chuyển nơi Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Quý vị phước
khí chẳng nhỏ, nhưng có mấy vị chưa nghe đến đây
đã lui ra rồi, thật là đáng tiếc! Tôi rất lưu
tâm đến điều này, bọn họ phước báo không nhiều,
nhưng quý vị thì không giống vậy. Nếu nghe minh
bạch thì đều có thể thành công bởi vì hạt giống
Kim Cang đã rơi vào tám thức điền của mọi người.
Do quý vị giữ tinh thần lắng nghe thì mới biết
là quý vị đã được phước báo to như cõi trời, hạt
giống ấy vĩnh viễn chẳng bị tiêu diệt. Ðiều khẩn
yếu là hai chữ “bất thoái”, vĩnh viễn chẳng
thoái thất. Nếu khéo công phu thì ngay trong đời
này thành tựu. Nếu không thì sớm muộn gì hạt
giống Kim Cang sẽ nảy mầm, lúc ấy chính là lúc
quý vị thành tựu kết quả.
Tiếp đến
là nói về Nguyện. Hiện tại mình học Phật rồi, đã
biết có vô lượng vô biên Tịnh Ðộ. Nhưng chúng ta
tu Tịnh Ðộ, phải phát nguyện sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới là điều vĩnh viễn chẳng biến
cải, chớ có ai nói gì cũng tin, chẳng thể sáng
ba, chiều bốn. Dù cho có ai nói thế giới nào tốt
đẹp ngàn vạn lần cõi Tây Phương, ta cũng chẳng
trái bỏ ý niệm Phật lúc đầu. Dù cho ai dạy pháp
môn nào hay hơn, lẹ làng hơn pháp môn Niệm Phật
Vãng Sanh cũng vĩnh viễn chẳng biến cải. Có khí
phách kiên định, nguyện thiết tha như thế thì
nguyện ắt thành.
Nếu đã tu
Tịnh Ðộ rồi lại đổi tu pháp khác tức là tu cả
ba, bốn pháp môn thì không có pháp nào tu thành
công hết. Ðã phát nguyện vãng sanh Tây Phương
thiết tha rồi, đã có lòng tin rồi, đã có căn cứ
rồi, bất luận là tình hình nào cũng vĩnh viễn
chẳng biến cải thì ắt sẽ thành tựu.
Lại nói
về Hạnh. Hạnh rất đơn giản. Kinh
Ðịa Tạng, kinh Dược Sư, kinh
Pháp Hoa, Tam Tạng mười hai bộ
kinh đều hay cả, nhưng nếu vậy chẳng lẽ mỗi ngày
tụng hết cả Tam Tạng mười hai bộ kinh sao? Muôn
phần chúng ta chẳng nên dùng phàm để suy thánh,
tưởng tâm Phật, tâm Bồ Tát giống như tâm phàm
phu: nếu mình lễ bái vị này, không lễ bái vị
kia, chỉ sợ đắc tội với vị kia. Ðấy thật là ngu
si. Chúng ta có tâm phân biệt, chứ Phật chẳng hề
có. Nếu chúng ta ngu si, niệm kinh này, niệm
kinh kia thì không một ai trong một ngày niệm
xong Tam Tạng mười hai bộ kinh được cả!
Tu Tịnh
Ðộ cực giản dị, dù cho chẳng niệm kinh A Di
Ðà, chỉ niệm Phật cũng được. Vạn đức hồng
danh, bất luận là Nam Mô A Di Ðà Phật, hoặc bốn
chữ A Di Ðà Phật, câu hồng danh này bao hàm vô
lượng vô biên danh hiệu Phật. Bởi lẽ A Di Ðà
Phật chính là Pháp Giới Tạng Thân, niệm một câu
Phật cũng như niệm hết thảy Phật.
Hơn nữa,
chữ A trong A Di Ðà Phật chính chữ thứ nhất
trong Hoa Nghiêm Tự Mẫu của kinh Hoa
Nghiêm. Thế Tôn cuối đêm thấy sao Mai, kiến
tánh thành Phật, liền quán tưởng chữ A. Không có
chữ A này thì cũng chẳng có Tam Tạng mười hai bộ
loại kinh điển. Câu A Di Ðà Phật này cũng chưa
được phiên dịch, vì hàm tàng nhiều ý nghĩa. Chỉ
lấy một câu danh hiệu Phật này, già giặn, chắc
thật niệm đến khi Nhất Tâm Bất Loạn ắt sẽ nhất
định thành công, chẳng cần phải niệm nhiều thứ
khác. Vì thế, lúc niệm Phật đừng nghĩ đến vọng
niệm nào khác. Vọng niệm khác là Ma, ta dùng câu
Phật hiệu này để trừ khử nó. Như vậy mới có thể
đạt tịnh niệm tiếp nối.
Hơn nữa,
về Chánh Trợ Song Tu thì thật sự ra, đối với Trợ
Pháp cũng chẳng cần phải làm gì khác, chỉ cốt
sao đối với một câu danh hiệu Phật này, Nhất Tâm
niệm Phật thì chánh lẫn trợ đều bao gồm trong
ấy. Nhưng chúng ta còn là phàm phu, vẫn chưa đạt
được công phu ấy. Thực ra, Nhất Tâm niệm Phật
thì kinh, Phật, chú đều gộp cả trong đó, chỉ sợ
bọn ta chẳng được thành tâm như thế. Nếu thành
tâm niệm Phật thì Tam Tạng mười hai bộ kinh đều
nằm trọn trong ấy.
Ðối với
Trợ Hạnh Công Phu, nếu chúng ta chưa biết làm
lành thì cũng chẳng khẩn yếu lắm, chỉ cần “các
điều ác đừng làm” thì cũng được. Niệm Phật thì
chẳng tạo ác. Lúc chúng ta niệm Phật A Di Ðà,
chúng ta chính là Phật A Di Ðà. Phật chính là
tâm, tâm chính là Phật. Chẳng được một mặt niệm
Phật, một mặt tạo nghiệp. Nếu như niệm Phật mà
lại còn gây các tội nghiệp giết chóc, dâm dục,
trộm cắp, uống rượu v.v... thì chính là báng
Phật, công hiệu của việc niệm Phật bị giảm
thiểu. Chỉ cốt sao đừng tạo nghiệp, già giặn,
chắc thật niệm một câu A Di Ðà, lại đừng làm các
điều ác. Tu pháp môn Tịnh Ðộ như thế nhất định
thành công.
Khi đến
giảng trong Phật thất, tôi vốn thường giảng nói
sao cho người tham gia đắc Nhất Tâm, nhưng thấy
mấy năm nay, có nhiều người thoái chuyển. Thế
nên hôm nay, tôi nói nhiều về giáo lý, hiểu rõ
giáo lý thì mới biết rõ nên dụng công thế nào để
được Nhất Tâm. Tôi nói bài kệ để khích lệ chung:
“Tịnh
Tông tư lương Tín Nguyện Hạnh”
(Tư lương của Tịnh Ðộ tông là Tín Nguyện Hạnh):
Tịnh Ðộ tông tu hành vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới thì phải chuẩn bị đủ ba thứ tư
lương “tin sâu, nguyện thiết, hạnh mạnh mẽ”. Tín
Nguyện Hạnh giảng ra có vô lượng vô biên pháp,
hôm nay tôi giảng những điều cực giản yếu.
“Nhị
lực cảm giao công thỉ thành”
(Hai lực cảm ứng đạo giao thì mới thành công):
Phàm là muốn được thành công, tu các tông khác
phải dựa vào chính sức mình, tu dần từng bước
mới có thể thành công. Hễ dùng sức sai một phân
thì chẳng thể thành công. Tịnh Ðộ tông bất tất
phải như thế, sức lực chủ yếu là sức của Phật A
Di Ðà, mình chỉ đổ ra ít sức. Mình chỉ cần buông
xuống vạn duyên, niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn,
những việc gì khác đều không bận tâm đến. Những
gì khác đều coi là do sức của Phật A Di Ðà, thế
giới Cực Lạc là do Phật A Di Ðà trang nghiêm
thành. Lúc chúng ta lâm chung, Phật đích thân tự
cầm hoa sen đến tiếp dẫn sanh về thế giới ấy.
“Trang nghiêm cõi Phật, tiếp dẫn vãng sanh” đều
do sức của Phật, chúng ta chỉ việc niệm Phật sao
cho đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn. Ðấy là những điều
được minh thị trong kinh. Có cả Phật lực lẫn tự
lực như thế ắt sẽ thành công.
“Kinh
văn tối trọng Ðồng Cư Ðộ”
(cõi được kinh văn chú trọng nhất là Phàm Thánh
Ðồng Cư Ðộ): thế giới Cực Lạc chia làm bốn cõi (Phàm
Thánh Ðồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thật Báo
Trang Nghiêm và Thường Tịch Quang). Trong kinh
A Di Ðà có đủ cả bốn cõi, nhưng cõi được
coi là trọng yếu nhất chính là cõi Phàm Thánh
Ðồng Cư. Bọn phàm phu chúng ta chưa đoạn được
một phẩm vô minh nào, không phương cách nào sanh
về Tịnh Ðộ. Nhưng thế giới Cực Lạc chính là “Tha
Thọ Dụng Tịnh Ðộ”, giống như một căn nhà tốt,
chẳng phải chỉ để riêng mình sử dụng mà còn phải
nhượng cho mọi người đều được sử dụng.
Tu hành
đoạn Hoặc mới thoát khỏi luân hồi. Phàm phu
không cách gì thoát luân hồi, chỉ có được Phật A
Di Ðà trong Cực Lạc thế giới tiếp dẫn thì mới có
thể thoát sanh tử luân hồi, dù vãng sanh Cực Lạc
thế giới nhưng vẫn là phàm phu. Vì thế, trong
kinh A Di Ðà, chư Phật trong sáu phương
xuất hiện để chứng thực những điều đã được nói
trong phần kinh văn trước đó đều là cảnh giới
của phàm phu, là cõi Phàm Thánh Ðồng Cư.
Dựa theo
thế giới Sa Bà đây mà nói thì phía dưới trời Sắc
Giới là trời Lục Dục, vẫn có nam nữ, ăn uống
cũng như chuyện ăn ở. Nhưng trong kinh A Di
Ðà cũng nhắc đến ăn ở thì đấy cũng là cảnh
giới của phàm phu chưa đoạn Hoặc. Vì thế, chúng
ta Nhất Tâm niệm Phật, dù chưa đoạn Hoặc cũng
vẫn được vãng sanh Cực Lạc Tịnh Ðộ. Sau khi vãng
sanh sẽ làm người hoặc là làm trời, nhưng vẫn là
phàm phu, chưa có quả vị, nên phải thuộc về Phàm
Thánh Ðồng Cư Ðộ.
Vì thế, ở
trong cõi Sa Bà này, chưa đoạn Hoặc mà có thể
vãng sanh Cực Lạc thì thuộc về Hoành Siêu (vượt
khỏi luân hồi theo chiều ngang), sanh sang cõi
Phàm Thánh Ðồng Cư của thế giới Cực Lạc. Từ đó
lại sanh lên cõi Thường Tịch Quang cũng là Hoành
Siêu. Ðạo lý này thâm áo chẳng dễ hiểu nổi được,
chúng ta cứ tin vào Thánh Ngôn Lượng là đủ. Bởi
thế, kinh văn chú trọng nơi Phàm Thánh Ðồng Cư
Ðộ, chuyên tiếp độ phàm phu chưa đoạn Hoặc vãng
sanh.
“Ðản
đắc phục Hoặc tiện vãng sanh”
(chỉ chế phục được Hoặc thì liền vãng sanh):
Nhất Tâm Bất Loạn cũng là điều được nhắc đến
trong kinh A Di Ðà. Nhưng phải đoạn Hoặc
mới đạt nổi Nhất Tâm Bất Loạn. Ðoạn Hoặc vãng
sanh thì liền sanh vào Thượng Phẩm. Nhưng số
người chưa đoạn Hoặc chiếm đa số. Ngay như tôi
đây, chẳng biết đời trước thế nào, chứ đời này
tôi tu tập suốt sáu mươi năm vẫn chưa đoạn nổi
một phẩm vô minh nào. Ðây là lời thành thật,
chẳng những tôi không có thần thông mà quỷ thông
cũng không có luôn. Phải nhớ là dù có thần thông
vẫn không tránh khỏi luân hồi lục đạo, không
cách nào liễu sanh tử.
Bây giờ
nói đến chuyện làm sao đắc Nhất Tâm? Chúng ta
không có cách nào đoạn Hoặc để đắc Nhất Tâm, chỉ
có thể chế ngự được Hoặc mà thôi. Ngay lúc vọng
niệm của chúng ta nổi lên tơi bời thì lập tức
dùng một câu Phật hiệu chèn ép nó, dù chèn ép
được Hoặc nhưng Hoặc vẫn chưa đoạn. Ðến lúc lâm
chung, do thường ngày hễ vọng niệm nổi lên bèn
lập tức dùng Phật hiệu chế ngự, đè nén, nên lúc
lâm chung cũng giống hệt như vậy. Lúc ấy Phật
hiệu khởi lên thì bèn được Phật đến tiếp dẫn đới
nghiệp vãng sanh. Chuyện đới nghiệp vãng sanh
này trong kinh A Di Ðà, kinh Vô Lượng
Thọ đều ngầm nói hoặc nhắc đến rõ ràng. Do
chưa đoạn Hoặc, nhưng dùng Phật hiệu để chế ngự
nó, được vãng sanh, nên gọi là “đới nghiệp vãng
sanh”.
Vì thời
gian đoạn Hoặc rất lâu chẳng thể nhất thời thực
hiện được, nay tu pháp môn Tịnh Ðộ, hễ vọng niệm
vừa khởi bèn nghĩ “hễ cái gì có hình tướng
thì đều là hư vọng”, tức là dùng Chân Như
Phật Tánh chế ngự vọng niệm. Chân Như Phật Tánh
tức là một câu “A Di Ðà Phật”. Dùng Phật hiệu
chế ngự Hoặc thì sẽ được Phật tiếp dẫn, đới
nghiệp vãng sanh, đến Tây Phương rồi mới đoạn
Hoặc. Vì thế, nay chỉ nói là “cầu vãng sanh”.
Nói đã
dài rồi, sợ mất thời gian quý vị dụng công, mang
lỗi với mọi người. Giờ đây quý vị lại niệm Phật,
chế ngự Hoặc. Kính xin chư vị buông xuống vạn
duyên, thiện duyên, ác duyên đều buông xuống
hết, cứ một câu A Di Ðà mà niệm mãi.
*****
(1) Ý
nói: Sau khi chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của
Tưởng Giới Thạch thua mất Hoa Lục vào tay Mao
Trạch Ðông, phải chạy ra Ðài Loan.
(2)
Kiền chùy (Ghanta): còn gọi là Kiền Trì, Kiền
Trĩ, Kiền Ðể, là các khí cụ dùng để đánh báo
hiệu trong tự viện như chuông, khánh, linh, bảng,
mõ v.v... Ở đây ý nói, chuông, trống và địa
chung dùng để tán Phật và niệm Phật trong Phật
Thất.
(3)
Tuyết Tăng: Tuyết Tăng là một trong những biệt
hiệu của cụ Lý Bỉnh Nam.
(4)
Ða tài quỷ: loài quỷ có nhiều tiền của, thức ăn.
(5)
Cửu giới: Chín giới bao gồm: nhân, thiên, a tu
la, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ, Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát.
Trang 23
|
|
|
|
|
|