
THƠ NHẮC NHỞ
NGƯỜI NIỆM PHẬT
( LIÊN TÔNG
DIỆU ĐẾ TỊNH NGỮ TAM TẮC )
Chép lại bài giảng của cư sĩ
Hoàng Niệm Tổ trong niệm Phật thất 1998, tại Cư Sĩ Lâm Bắc Kinh.
“Tịnh Ngữ” là tuyển
tập thơ Tịnh Độ của thầy tôi, lăo cư sĩ Hạ Liên Cư. Tên trước của cuốn
này là “Hoan hỷ niệm Phật Trai Thơ Sao”. Vào thập niên 1950 những
bài bài thơ này từ từ thêm nhiều nên được đổi thành “Tịnh Ngữ”. Thơ của
thầy Hạ tràng đầy những tinh túy của Phật giáo v́ nó được làm từ đại
quang minh tạng, tự nhiên tuôn trào ra, mỗi một câu thơ đều tự nhiên
tinh diệu làm cho người đọc khai mở tâm thức. Nghĩa của chữ Tịnh Ngữ có
thể nói là những lời cảnh tỉnh cho người tu Tịnh Độ, nó có nghĩa là tánh
thanh tịnh bổn nhiên đương sanh thanh tịnh tâm, Vô lượng Thanh Tịnh Giác
(danh hiệu của đức Phật A Di Đà). Tịnh là tịnh niệm tương kế, ngữ là lời
nói của âm thanh trong tâm. Tịnh ngữ là sự hiển hiện của tâm thanh tịnh
và lời khai thị của tánh giác thanh tịnh, khôi phục tánh bổn nhiên thanh
tịnh, mà tịnh niệm luôn luôn liên tục.
Tịnh Ngữ trực chỉ kho
báu vốn sẵn có của hành giả. Xin tuyển chọn ra ba bài thơ để cúng dường
đại chúng.
Bài thứ nhất làm tại Cực Lạc Am,
Đạo tràng Niệm Phật.
Tạm dịch:
Niệm Phật
kỵ nhất
Tinh thần
tán loạn
Tiếng niệm
mơ hồ
Trước
nhanh sau chậm
Không có
âm điệu
Lại không
nối liền
Tâm không
hợp miệng
Thanh
không nhiếp niệm
Nuôi dưỡng
ư thức
Người xưa
than rằng
Cách niệm
như vậy
Rất khó
thành phiến.
Tiếng ḥa
nhịp đều
Chữ ngay
âm tṛn (rơ)
Thành khẩn
khắn khít
Điềm đạm
an nhàn
Thanh hợp
với tâm
Tâm hợp
với thanh
Thanh tâm
nối liền
Vọng niệm
tự dứt.
Phật hiệu
như châu
Tâm như
sợi dây
Phân th́
cách ly
Hiệp th́
thành xâu
Tâm không
rời Phật
Miệng
không rời niệm
Như dây xỏ
châu
Liên tục
không dứt.
Chưa được
nhất tâm
Trước cầu
chuyên niệm
Chưa được
không loạn
Trước học
thành phiến
Thiệt là
chuyên cần
Hiệu quả
tự thấy
Không phải
hỏi người
Hăy xin tự
xét.
Nguyên
văn:
Niệm Phật
tối kỵ
Tinh thần
hoản tán
Tự cú mơ
hồ
Tiên khoái
hậu mạn
Kư vô âm
tiết
Hựu bất
liên quán
Tâm bất
ứng khẩu
Thanh bất
nhiếp niệm
Khinh hốt
dưỡng thức
Cổ đức sở
thán
Như thử
niệm pháp
Vĩnh nan
thành phiến.
Thanh ḥa
vận ổn
Tự chánh
âm viên
Mạo thiết
miên mật
Trầm trước
an nhàn
Thanh hiệp
hô tâm
Tâm ứng hô
thanh
Tâm thanh
tương y
Vọng niệm
tự thanh.
Phật hiệu
như châu
Niệm đầu
như tuyến
Phân tắc
các ly
Hiệp tắc
thành xuyến
Tâm bất ly
Phật
Khẩu bất
ly niệm
Như tuyến
quán châu
Tương tục
bất đoạn.
Vị năng
nhất tâm
Tiên cầu
chuyên niệm
Vị năng
bất loạn
Tiên học
thành phiến
Chân cần
chân chuyên
Công hiệu
tự kiến
Vô tư vấn
nhân
Hoàn thỉnh
tự nghiệm.
Thầy Hạ (lăo cư sĩ Hạ Liên Cư)
làm những bài thơ này trong đạo tràng niệm Phật năm 1944. Thầy điều
khiển Phật Thất rất là nghiêm cẩn và theo đúng chánh pháp, những người
chánh thức tham dự đều bế quan niệm Phật. Những lời khuyên dạy này đều
là những kinh nghiệm thật tiễn mà thầy đă trăi qua và viết thành thơ để
làm kim chỉ nam cho mọi người .
Đoạn đầu trong bài
thứ nhất nói về những sai lầm mà người niệm Phật rất dễ gặp và phải nên
đề pḥng.
[Niệm Phật kỵ nhất
Tinh thần tán loạn]
Hai câu đầu nói người niệm Phật
tư tưởng không tập trung, không có tinh thần, tâm trạng không vui, ư chí
trầm mặc, không hăng hái, tạp niệm vô cùng, nếu không hôn trầm th́ là
trạo cử, những thứ này đều là tối kỵ. Lại c̣n [Tiếng niệm mơ hồ], âm
thanh không rơ ràng, người khác nghe không rơ, tự ḿnh nghe cũng không
rơ. [Trước nhanh sau chậm], lúc mở đầu niệm rất nhanh, càng niệm càng
chậm càng không hăng hái. [Không có âm điệu], lúc đại chúng cùng nhau
niệm Phật thường gơ mơ để giữ cho nhịp điệu của câu niệm Phật của mọi
người đều nhau. Lúc mỗi người niệm Phật ở nhà cũng có thể dùng mơ, nếu
không dùng mơ cũng phải niệm có nhịp điệu rơ ràng th́ dễ nhiếp tâm hơn.
Nhịp điệu của mỗi chữ trong câu niệm Phật cũng phải đều nhau, không được
khi nhanh khi chậm. Âm thanh của mỗi chữ trong Phật hiệu cũng phải có
nhịp điệu, không được khi lớn khi nhỏ. Nhịp điệu tiết tấu rất quan
trọng, nếu niệm có nhịp điệu th́ dễ thành công hơn. Nếu c̣n [Lại không
nối liền] th́ càng tệ hơn. Câu sau không tiếp theo câu trước, niệm
Phật quan trọng nhất là [Tịnh niệm tương kế] (tịnh niệm nối liền, liên
tục hoài). [Tâm không hợp miệng], miệng th́ niệm Phật nhưng mà tâm
lại suy nghĩ tính toán chuyện khác. Đang niệm Phật mà nghĩ lung tung:
“Ông đó đối xử với tôi thiệt là không tốt chút nào, nghĩ xong rồi lại
nhớ phải mua cái TV mới”. C̣n một t́nh huống khác nữa là tạp niệm quá
nhiều, liên tiếp nổi lên hoài không thể dẹp hết được. Điều này không cần
lo, đây là một hiện tượng tự nhiên trong quá tŕnh niệm Phật, không cần
để ư tới. Bí quyết trị bệnh vọng tưởng là “Mặc cho vọng niệm sôi nổi,
tôi chỉ nghe tiếng niệm Phật rơ ràng”.
[Thanh không nhiếp
niệm]
Âm thanh của câu niệm Phật có tác
dụng rất lớn. Điều quan trọng trong pháp môn niệm Phật là miệng niệm rồi
tai nghe tiếng Phật hiệu của ḿnh niệm. Cho nên muốn nhiếp hết sáu căn
th́ trước hết phải thâu nhiếp lưỡi và tai trước. Ư cũng phải tưởng câu
Phật hiệu này, tay lần chuỗi, mắt nh́n tượng Phật, mũi ngửi được hương
cúng Phật. Nhiếp lục căn quan trọng nhất là nhiếp nhĩ căn. Lúc một ḿnh
niệm Phật th́ tốt nhất là niệm theo cách “Kim cang tŕ”, nghĩa là niệm
khe khẽ vừa đủ nghe, vừa nghe được âm thanh ḿnh niệm mà vừa dưỡng hơi
thở. Niệm thầm không ra tiếng cũng có
thể nghe, nhưng mà khó nghe hơn. Âm thanh lớn nhỏ cũng có thể thay đổi,
lúc tán loạn hoặc phiền năo khởi lên th́ có thể niệm lớn tiếng. Đến khi
niệm được thanh tịnh rồi th́ có thể niệm nhỏ tiếng lại. Tốt nhất
là phải nghe được âm thanh ḿnh niệm, âm thanh này có thể giúp ḿnh
nhiếp tâm. Đây là sự đặc biệt thù
thắng của pháp môn niệm Phật. Người xưa nói: “Lấy âm thanh làm Phật sự”.
Cực Lạc thế giới là nơi có pháp âm tuyên lưu, người nghe được th́ tự
nhiên niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Tiếng niệm Phật này là pháp âm,
phải niệm được có âm điệu rơ ràng và liên tục không ngừng, lúc niệm phải
chân thành, khẩn thiết, và thanh tịnh. Âm thanh bạn niệm này là âm thanh
diệu đức, đối tượng bạn niệm là vị Phật có vạn đức trang nghiêm. Diệu
thanh vô thượng thù thắng này lại từ tai đi thẳng vào tâm thức và gia
tŕ tự tâm. Tự cảm tự ứng rất vi diệu và rất khó suy lường được. Cho nên
quan trọng nhất là ở chỗ niệm rồi tự ḿnh nghe tiếng niệm đó.
[Nuôi dưỡng ư thức]
Nếu lúc niệm trong tâm phiền tạp
tán loạn, th́ âm thanh niệm Phật tự nhiên rất tạp loạn khó nghe. Tâm
không chuyên chú th́ tai nghe cũng không rơ. Âm thanh niệm ra không có
tác dụng nhiếp tâm th́ càng không thể nhiếp hết lục căn được. Trái lại
c̣n có ảnh hưởng xấu là “nuôi dưỡng ư thức”. Nếu bạn niệm rất lơ là, bạn
không những là không “chuyển thức thành trí” mà c̣n bồi dưỡng thêm cho
thức. Chúng ta tu tập mục đích là chuyển tám thức thành bốn trí. Chúng
ta niệm Phật là đem ư thức phân biệt chuyển thành “diệu quan sát trí”.
Nếu chúng ta niệm Phật mà không theo âm điệu, tán loạn, không tập trung
tinh thần, không liên tục, tâm tưởng chuyện không giống như miệng niệm,
âm thanh niệm không thể nhiếp được tâm, cách niệm này không những là
không chuyển thức mà lại c̣n dưỡng thức. Cổ đức than là niệm như vậy th́
quá uổng.
Thân người khó được, trung quốc (1)
khó sanh, Phật pháp khó gặp khó nghe, Tịnh Độ khó tin mà bạn tin được,
bạn lại chịu niệm Phật. Nhưng mà bạn lại niệm cách này cho nên người xưa
mới than thở: Niệm cách này th́ [vĩnh viễn rất khó thành phiến]. Niệm
Phật đến khi nhất tâm bất loạn th́ rất khó, trước hết phải đạt được niệm
Phật thành phiến (thành khối) trước. Chúng ta phải niệm đến thành phiến,
ít th́ mười mấy câu, nhiều th́ ba mươi câu, năm mươi câu. Nếu nhiều nữa
th́ có đến một xâu, hai xâu [chuỗi]. Niệm Phật thành phiến nghĩa là
trong thời gian niệm này tâm định trên câu niệm Phật, tâm không loạn, từ
đầu đến cuối đều là một câu Nam mô A Di Đà Phật. Tŕnh độ của ḿnh như
thế nào ḿnh hoàn toàn biết rơ. Cho nên cách niệm như trên đă nói th́
rất khó thành phiến, phải nên tránh, phải nên pḥng ngừa.
Đoạn đầu trong bài thứ nhất nói đến
điều cấm kỵ trong lúc niệm Phật. Ngược lại ba đoạn sau này nói đến cách
niệm Phật như thế nào mới đúng và chính xác.
[Tiếng ḥa nhịp đều]
chỉ âm thanh niệm Phật ḥa hài, an ḥa. Âm thanh rất quan trọng, nếu
tiếng niệm mà khàn khàn, không rơ không đều th́ không tốt. Khi người
nghe được âm thanh trong trẻo thanh tịnh th́ tự nhiên tâm thần sảng
khoái thân tâm an ḥa, ngược lại th́ tâm sẽ loạn, bức rức và không an.
[Nhịp đều] là âm thanh êm dịu ḥa
hài, an định, trầm tịnh, khí vận cao nhă, có nhịp điệu .
[Chữ ngay âm tṛn (rơ)]
chữ phải niệm đúng âm. Chữ A trong danh hiệu đức Phật A Di Đà phải đọc
là “A” chứ không phải là “Ơ”. Nếu người bắt đầu mà niệm không đúng th́
phải sửa. Tiếng niệm ra phải rơ, đừng có khàn hoặc đục. Tai nghe được âm
thanh này th́ tinh thần khó chịu không thích, ngược lại âm thanh trong
trẻo rơ ràng làm cho người nghe hoan hỷ dễ chịu tâm dễ an tịnh. Âm nhạc
có ảnh hưởng rất lớn, nghe tiếng đàn tỳ bà và nghe âm nhạc kích động
hiện nay có hiệu quả hoàn toàn khác nhau. Đàn tỳ bà tốt th́ hiệu quả c̣n
đặc biệt hơn nữa, chỉ cần nghe vài tiếng th́ tâm bồn chồn không yên của
người nghe có thể lắng dịu xuống. Âm thanh có ảnh hưởng rất lớn cho nên
âm thanh niệm Phật phải nên rơ ràng (viên ḥa).
[Thành khẩn khắn khít
(Mạo thiết miên mật)]
Lúc niệm Phật phải thành khẩn cũng
như lúc đứng trước đức Phật thiệt, hoặc là như lúc đi trên biển lớn,
đang bị nạn sắp ch́m phải hết ḷng kêu cứu, lúc đó mỗi niệm đều phát ra
từ tâm vô cùng chí thành, vô cùng khẩn thiết, từng câu Phật hiệu nối
liền theo câu trước, niệm như vậy gọi là khắn khít, miên mật, và cũng là
“tịnh niệm tương kế (liên tục)”. Đối với những người có công khóa sáng
tối nhất định, trước hết phải làm cho được khắn khít miên mật trong thời
gian niệm Phật này, tránh đừng bị quấy nhiễu. Niệm được lâu rồi th́
không những trong thời khóa nhất định niệm được miên mật mà phải ở bất
cứ chỗ nào lúc nào cũng phải luôn luôn có câu niệm Phật trong tâm. Điều
này khó không? Sự thật th́ đâu có ai cản trở không cho bạn niệm đâu?
Nếu bạn muốn niệm th́ cứ niệm đi, cho nên đều do ḿnh quyết định, đều là
không khó. Thật ra người làm được việc này rất hiếm. Nếu tùy thời tùy
chỗ đều giữ được câu Phật hiệu này th́ niệm thành phiến không thành vấn
đề, sắp đạt được “sự nhất tâm” rồi.
Pháp môn Tịnh Độ tốt là tốt ở chỗ
này, người đời ai cũng có thể làm được, không phải là chuyện cao siêu
quá khó không ai làm nổi, c̣n như chuyện khai ngộ th́ rất khó, không
phải ai cũng có thể làm được, trong trăm triệu người khó mà có được một
người làm được. Ở Trung quốc bạn có thể nói ra tên của mười người khai
ngộ không? Niệm Phật th́ khác, ai cũng có thể niệm. Niệm Phật phải miên
mật, trong tâm luôn luôn phải có câu Phật hiệu. Chuyện này có thể làm
được, vấn đề là bạn tự ḿnh có chịu niệm không. Khi có phiền năo sanh ra
th́ bạn không chịu niệm nữa. Sân hận, hấp tấp, bồn chồn là phiền năo,
vui mừng cũng là phiền năo. Khi bạn cao hứng, bạn bè khách khứa tấp nập,
nói chuyện vui vẻ th́ bạn quên niệm Phật rồi. Đây đều là phiền năo. Thật
ra trong lúc phiền năo cũng có thể niệm Phật, chỉ tại bạn không muốn
niệm thôi. Nếu bạn niệm th́ tự nhiên sẽ được thành phiến.
[Điềm đạm an nhàn
(Trầm trước an nhàn)]
Câu này chỉ rơ căn bịnh của nhiều
người niệm Phật hiện nay. Có nhiều người rất dụng công nhưng mà hấp tấp
muốn mau thành công cho nên rất nôn nóng khẩn trương. Như vậy là có tâm
mong cầu. Sự thù thắng của pháp môn niệm Phật là từ có niệm dần dần đi
đến vô niệm, từ chỗ có cầu mà khế nhập đến không cầu, từ văng sanh chứng
đến vô sanh. Phải điềm đạm yên định, không có các thứ âu lo, bồi hồi,
tâm trạng sợ được, sợ mất, tâm bồn chồn không an. Ngoài ra c̣n phải an
nhàn. Có người rất nỗ lực nhưng mà tại v́ hấp tấp nôn nóng cho nên trở
thành khẩn trương, đứng ngồi không yên. Từ chỗ an nhàn đi lên
thêm một bậc nữa phải muôn duyên buông xả, không ham không cầu,
làm một người nhàn hạ nhất trong thế gian, trong tâm không lo ǵ hết
ngoài chuyện niệm Phật. Một câu Phật hiệu luôn luôn hiện tiền,
không quái ngại, không điên đảo, cho nên được “tịch nhiên” tâm an. Cho
nên hai chữ an nhàn rất là quan trọng. Ngược lại nếu nôn nóng muốn thấy
Phật, thấy hào quang, muốn có điềm lạ th́ trước sau ǵ cũng bị bịnh và
bị chướng ngại. Chúng ta v́ sao mà có thể an nhàn? Đó là nhờ tín tâm.
Nếu bạn có tín tâm th́ tâm bạn rất an. Có người nói tại sao tôi niệm
hoài mà vẫn c̣n vọng tưởng quá nhiều, chắc mà khó được văng sanh. Đây là
chướng ngại của họ tự tạo nên. Ngẫu Ích đại sư có nói: “Văng sanh
được không toàn do nơi tín nguyện có hay không”. Bạn có tín
tâm vững chắc, bạn có chân thật phát nguyện không? Có thiệt là không lưu
luyến thế giới Sa Bà này, hâm mộ thế giới Cực Lạc, nguyện cầu văng sanh
không? Thật ra th́ rất nhiều người c̣n lưu luyến thế giới này, c̣n
muốn sống thêm vài năm, c̣n muốn trường sanh bất lăo! Cho nên nếu hâm
mộ thế giới Cực Lạc th́ phải phát đại nguyện. Những thân bằng quyến
thuộc trong nhiều đời nhiều kiếp của ḿnh hiện nay đang trầm luân trong
biển khổ đang đợi ḿnh đi cứu giúp. Nhưng mà bạn hiện nay c̣n là
người vẫn đang trầm luân trong biển khổ, hiện giờ không có năng lực ǵ
để cứu người khác. Chỉ sau khi văng sanh rồi, nhờ vào Phật lực gia tŕ
th́ mới có năng lực và trí huệ để cứu người khác. Có tâm trạng như
vậy, có đại nguyện như vậy, và có tín nguyện như vậy th́ tự nhiên sẽ
biết niệm Phật, nhất định sẽ văng sanh. Nếu bạn muốn văng sanh th́ phải
hạ thủ công phu trên tín và nguyện. Nếu bạn tin sâu nguyện thiết th́ bạn
nhất định được văng sanh. Được như vậy th́ khi bạn niệm Phật, trong tâm
sẽ không c̣n hấp tấp bồn chồn và tự nhiên sẽ an nhàn.
[Thanh hợp với tâm,
Tâm hợp với thanh]
Âm thanh niệm Phật phát ra từ tâm
thành khẩn, tâm thanh tịnh th́ tự nhiên sẽ ḥa hài, an tịnh, diệu thiện,
cao nhă. Âm thanh vi diệu của câu niệm Phật này từ tai đi vào bổn tâm,
âm thanh tai nghe được cũng là âm thanh của ḿnh niệm, cho nên tự nhiên
tương hợp, âm thanh hợp với tâm. Âm thanh này là Phật hiệu vạn đức trang
nghiêm, âm thanh này từ nhĩ căn đi vào là tự tâm sở niệm. Tự tâm niệm
Phật, tự tâm là Phật. Cho nên tự tâm phải tương ứng với âm thanh nghe
được (sở văn chi thanh). Thanh hợp với tâm, tâm ứng với thanh. Cho nên
nói: [Âm thanh tương y]. Nói cho dễ hiểu là: tôi niệm Phật, niệm Phật có
âm thanh, âm thanh giúp cho tôi. Tôi niệm Phật phát ra âm thanh, âm
thanh này lại giúp cho tôi, cho nên nói là nương nhau mà niệm. Cứ niệm
như vậy hoài th́ không cần dẹp trừ vọng niệm, [vọng niệm tự dứt].
Đoạn thứ ba:
[Phật hiệu như châu,
Tâm như sợi dây]
Nếu bạn không niệm, những hạt châu
này từng hạt từng hạt rời rạc, đó là [Phân th́ cách ly]. Lúc bạn niệm
th́ lấy sợi dây xỏ những hạt châu này thành xâu. Cho nên niệm Phật là
lấy Phật hiệu xỏ thành xâu, đây là [Hiệp th́ thành xâu]. [Tâm không rời
Phật] nghĩa là phải bất cứ chỗ nào lúc nào trong tâm không rời câu Phật
hiệu này. Chuyện này không có người nào cản trở bạn, tất cả đều là tự
ḿnh có chịu làm hay không. Muốn làm đến “tâm không rời Phật”, trước hết
phải [Miệng không rời niệm]. Lúc miệng đang niệm, tâm chưa chắc là có
Phật. Nếu trong tâm có Phật th́ miệng chắc chắn có niệm Phật. Miệng luôn
niệm câu Phật hiệu này cũng như [Như dây xỏ châu], câu này tiếp theo câu
trước [Liên tục không dứt].
Đoạn thứ tư:
[Chưa được nhất tâm,
Trước cầu chuyên niệm,
Chưa được không loạn,
Trước học thành phiến]
Bài này nói tới vấn đề vô cùng quan
trọng của những người niệm Phật hiện nay. Nhiều người xem đến bản dịch
kinh Di Đà của pháp sư Cưu Ma La Thập có nói đến “nhất tâm bất loạn” nên
nghĩ rằng nếu không niệm đến nhất tâm bất loạn th́ không thể văng sanh
được. Nhưng mà có thể niệm đến tŕnh độ này rất khó, cho nên họ bi quan
thất vọng và trở nên tiêu cực lo rầu. Thực ra đây không phải là ư của
đức Phật v́ trong kinh Vô Lượng Thọ, phẩm Tam Bối Văng Sanh (Ba Bậc Văng
Sanh) có đề ra điều kiện căn bản của những người văng sanh là “nhất
hướng chuyên niệm”. Nghĩa là chỉ cần bạn thật thà chuyên niệm câu Phật
hiệu này, chứ không đ̣i bạn phải nhất tâm bất loạn. Hơn nữa kinh Di Đà
của Huyền Trang pháp sư dịch là “hệ niệm bất loạn”. Câu này nghĩa là lúc
bạn niệm Phật rất chuyên tâm, không có suy nghĩ lung tung, điều kiện này
th́ dễ làm hơn. Nhất tâm có phân ra “sự nhất tâm” và “lư nhất tâm”.
Niệm đến “sự nhất tâm” th́ kiến hoặc và tư hoặc đều tự nhiên dứt hết.
Niệm đến “lư nhất tâm” th́ tối thiểu cũng phải phá một phần vô minh (vô
minh tổng cộng có 42 phần). Kiến hoặc chia ra 10 loại: thân kiến, biên
kiến, kiến thủ, giới thủ, tà kiến, tham, sân, si, mạn, nghi. Tư hoặc gồm
có những thứ tham, sân, si, mạn vi tế. Ai có thể diệt trừ những thứ
chướng ngại này? Chỉ c̣n một chút tham, sân, si, mạn là bạn không thể
đạt đến “sự nhất tâm”. Thí dụ như tâm tham, ai cũng muốn dùng đồ tốt.
Không những tham vật chất lại c̣n tham được người khác cung kính, đây là
tham danh tham địa vị.
Bạn có thể không giận không? Thí dụ
một câu chuyện thật xảy ra trong thập niên 1930. Có một bà vợ của một
ông tướng, bà này tu niệm đă lâu năm. Trong nhà có chuyện xích mích với
con dâu, một hôm bà đang tu niệm nhưng mà trong bụng c̣n giận con dâu,
đè nén không nổi tâm niệm xấu này bà nghĩ đến chuyện phải giết chết con
dâu th́ mới hả giận. Bà đi kiếm con dao và đến khi nh́n thấy được xâu
chuỗi đang đeo trên tay th́ mới giựt ḿnh ăn năn và bỏ đi cái tâm muốn
giết người này. Lại c̣n si c̣n mạn nữa, cống cao, ngă mạn, đố kỵ, chướng
ngại, ḿnh đúng, người sai. Phá hết tham, sân, si, mạn này th́ mới là “
sự nhất tâm ”, thiệt là quá khó. A La Hán đoạn dứt kiến hoặc và tư hoặc
đạt tới lậu tận thông, đoạn (cắt đứt) nhân ngă, thoát ra khỏi sanh tử.
Nếu pháp môn niệm Phật phải đoạn dứt kiến hoặc và tư hoặc rồi mới thoát
ly ra khỏi sanh tử luân hồi th́ cũng khó giống như chứng A La Hán, tại
sao lại nói là pháp môn dễ tu, là con đường tắt nhất? Đương nhiên là
không cần đạt đến tŕnh độ đoạn kiến hoặc và tư hoặc, văng sanh Cực Lạc
Phàm Thánh Đồng Cư Độ không cần đạt đến “sự nhất tâm”. Nếu có thể đạt
được th́ càng tốt, có thể sanh về Phương Tiện Hữu Dư Độ. Nếu chứng được
“lư nhất tâm”, phá một phần vô minh, th́ có thể chứng một phần pháp thân,
sanh về Thật Báo Trang Nghiêm Độ (quốc độ của Bồ Tát), một phần chứng
được Thường Tịch Quang Độ.
Chúng ta căn cứ vào “hệ niệm bất
loạn” trong bản dịch của Huyền Trang pháp sư và “nhất hướng chuyên niệm”
trong kinh Vô Lượng Thọ th́ có thể khẳng định rằng nhất hướng chuyên
niệm là điều kiện cần thiết phải có. Chuyên nghĩa là chuyên nhất không
thay đổi và cũng là chuyên tâm tŕ niệm và hệ niệm bất loạn.
Dĩ nhiên nếu đạt đến nhất tâm bất
loạn th́ văng sanh thượng phẩm càng tốt. Nhưng nếu chưa được nhất tâm
trước hết phải chuyên niệm. Chuyên nhất bất biến là nói với những người
thường thay đổi ư kiến. Ở núi này trông núi nọ, họ không thể vừa ḷng
với pháp môn tu niệm của ḿnh. Hôm nay muốn tham thiền, ngày mai muốn
học tŕ chú; niệm Phật được hai ngày rồi lại muốn học khí công. Những
người này học môn ǵ cũng luống công. Chúng ta là Phật tử th́ phải nghe
theo lời dạy của đức Phật, tu hành thời mạt pháp chỉ có pháp môn niệm
Phật là có thể giải thoát, phải nên nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật.
[Chưa được không loạn,
Trước học thành phiến]
Không thể làm được một chút cũng
không loạn th́ trước hết phải làm thành phiến. Bạn không thể không tán
loạn nhưng mà bạn có mấy chục câu niệm thành một phiến, trong mấy chục
câu này không có tạp niệm. Đây là t́nh trạng của người chân thật dụng
công. Một hôm có một người nói với tôi rằng anh không thể t́m ra được
hai câu Phật hiệu niệm được thanh tịnh hết. Tôi nói với anh rằng anh nói
thiệt không sai tí nào. Cho nên chúng ta phải kiên quyết chân thật niệm,
trước hết phải niệm thành phiến.
[Thiệt là chuyên cần]
(phải thiệt chuyên cần)
“Nếu trời không lạnh thấu xương
Làm sao mai nở rực mùi hương”.
Lạnh thấu xương không phải là
chuyện nhỏ. Chúng ta đă trầm luân trong biển sanh tử không biết bao
nhiêu kiếp rồi. Đức Phật có nói: “Chỉ tính những khi làm chó trắng,
xương của tôi cũng cao bằng núi Tu Di”. Luân chuyển trong lục đạo vô
lượng kiếp sanh tử, bây giờ phải chuyển biến lại ngay trong đời này
không đi luân hồi nữa. Đây là một chuyện vô cùng trọng đại mà chúng ta
không thể nào không giải quyết cho xong. Chuyện này rất quan trọng,
những chuyện khác đều là tṛ chơi của trẻ con, đều là bọt bong bóng, như
mộng huyễn bào ảnh, dầu cho tốt đẹp mấy đi nữa th́ cũng là bọt bong bóng.
Cho dù rất đẹp nhưng mà qua một phút chốc th́ nó nhất định phải vỡ tan.
Tôi năm nay gần tám mươi tuổi rồi, chớp mắt là phải vỡ tan. Tất cả đều
là khổ không vô thường, cho nên phải chân cần chân chuyên. Có người cái
ǵ cũng tu một chút, trong lúc tỉnh tọa lại tưởng tham thiền, đang lúc
niệm Phật lại muốn đi học tŕ chú, muốn niệm Di Đà, rồi muốn niệm Địa
Tạng, niệm Quán Âm Bồ Tát. Đây không phải là tu thiệt mà là pha tṛ vui
chơi. Chân cần chân chuyên th́ công hiệu tự nhiên có thể thấy được. [Hiệu
quả tự thấy. Không phải hỏi người. Hăy xin tự xét]. Cũng như người uống
nước, lạnh nóng th́ tự biết.
Bài thứ hai:
THÂM DIỆU THIỀN KỆ
Nguyên văn
Hữu đại phước đức thỉ niệm Phật
Phát Bồ Đề tâm tu thập thiện
Phật thuyết vô thượng thâm diệu thiền
Thiển nhân đương tác thiển pháp khán
Tứ nghi trang nghiêm tam nghiệp tịnh
Kiêm thủ trọng giới vật thiểu phạm
Đả phá nhân ngă thị phi quan
Phóng hạ sanh b́nh nhàn tri kiến
Đàm huyền thuyết diệu bất tương can
Tam tự chân truyền lăo thật niệm
Chỉ thử tức thị trường dạ đăng
Khổ hải từ hàng trảm ma kiếm
Yêu bạt đa kiếp sanh tử căn
Trực biền thử thân tác ngai hán
Ngũ tông bát giáo nhất cú thâu
Thiết mạc niệm ngoại mích phương tiện
Quá hoản quá cấp đồng thị bịnh
Cường tuởng nhất tâm tâm dụ loạn
Chí kiên như cương khí như miên
Bất gián bất tạp tự thành phiến
Nhân tâm quả Phật hỗ cảm ứng
Căn thân khí giới tiềm chuyển hoán
Phiền năo vi phục niệm bất nhất
Tập khí bất trừ Phật bất hiện
Thiên vạn cú như nhất cú thời
Hà sầu bất kiến Di Đà diện
Thử sự phi dị diệc phi nan
Tam muội toàn bằng Tín Nguyện Hạnh
Tạm dịch
Có đại phước đức mới niệm Phật
Phát Bồ Đề tâm tu thập thiện
Phật nói vô thượng thâm diệu thiền
Người thường xem như pháp nông cạn
Oai nghi trang nghiêm nghiệp thanh tịnh
Kiên quyết giữ giới đừng để phạm
Phá bỏ cửa nhân ngă thị phi
Buông bỏ b́nh sanh điều hiểu biết
Nói huyền nói diệu không liên can
Ba chữ chân truyền thật thà niệm
Đó là cây đèn trong đêm tối
Thuyền trong biển khổ kiếm chém ma
Nhổ gốc sanh tử trong nhiều kiếp
Liều thân này làm kẻ ngu ngốc
Năm tông tám giáo một câu tóm
Đừng ở ngoài niệm t́m phương tiện
Chậm quá nhanh quá đều là bịnh
Càng mong nhất tâm tâm càng loạn
Chí cứng như sắt, dạ như tơ
Không gián không tạp tự thành phiến
Nhân tâm quả Phật cùng cảm ứng
Thân thể cảnh giới dần chuyển biến
Phiền năo chưa dứt niệm không nhất
Tập khí không trừ Phật không hiện
Lúc ngàn vạn câu như một câu
Đâu lo không thấy mặt Di Đà.
Chuyện này không dễ cũng không khó
Tam muội đều nhờ Tín Nguyện Hạnh
Nội dung của bài thứ hai này là
thâm diệu thiền. Tại sao lại nói là thiền? Trong kinh Đại Tập có nói:
“Nhược nhân đán niệm A Di Đà,
Thị danh vô thượng thâm diệu thiền”
Tạm dịch :
Nếu có người chỉ niệm A Di
Đà,
Đó là vô cùng vi diệu thiền.
Không những là thiền mà là thiền
thâm sâu, thiền vi diệu, mà c̣n là thiền vô thượng thâm diệu. Giới trí
thức ở Trung Quốc thời xưa (giai cấp sĩ đại phu) rất hâm mộ Thiền Tông,
khinh rẻ Tịnh Độ, cho rằng chỉ có Thiền Tông mới là pháp cao thâm huyền
diệu, Tịnh Độ chỉ dành cho hạng ngu phu ngu phụ (ông già bà cả lẩm cẩm).
Thật ra nhận thức này của họ rất điên đảo, cũng như người mù con của ông
nhà giàu, thân đang ở trong của giàu sang mà bị của cải giàu sang làm
tổn hại. Ngoài ra c̣n có rất nhiều người tu lâu rồi nhưng không thành
công, trở nên tiêu cực, cho là ḿnh cái ǵ cũng không được. Xem kinh
cũng không khế nhập, càng không có tŕnh độ để tham thiền, học Mật Tông
th́ c̣n nhiều chỗ hoài nghi, pháp môn nào họ cũng không theo được cho
nên chỉ c̣n cách niệm Phật thôi! Người có quan điểm như vậy tuy là tu
Tịnh Độ, nhưng mà đối với Tịnh Tông không có nhận thức và quan niệm
chính xác.
Vô thượng thâm diệu thiền này ở đây
là chỉ Bát Nhă trong Lục Độ. Phần đông khi nói đến Thiền định là chỉ năm
thứ đầu tiên trong Lục Độ. Tất cả đều dùng chữ Thiền nhưng lại có sự sai
biệt rất lớn. Kinh giáo nói năm độ đầu (Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục,
Tinh Tấn, và Thiền Định) như là người mù, đến Bát Nhă mới có mắt, mới có
thể thấy được vạn vật trong trời đất. Ở đây nói thâm diệu thiền không
phải là muốn đề xướng mọi người đi tham thiền, mà là nói bạn đang niệm
Phật th́ cũng là đang tham vô thượng thâm diệu thiền.
[Có đại phước đức mới niệm
Phật (Hữu đại phước đức mới niệm Phật)]. Câu đầu tiên cũng như
tiếng sư tử hống (hét) làm chấn động trăm loài thú. Nói cho những người
coi thường Tịnh Độ, đừng tưởng rằng ngu phu ngu phụ đều có thể niệm Phật
rồi khinh rẻ Tịnh Độ. Những người tu Tịnh Độ cũng đừng cho rằng căn khí
của ḿnh thấp, không có
khả năng tu pháp môn khác, không có biện pháp
cho nên mới tu Tịnh Độ. Nên biết chỉ có người có “đại phước đức” mới có
thể tin sâu pháp môn niệm Phật rồi mới niệm Phật được. Cho nên chúng ta
phải càng tin tưởng hơn. Trong kinh Vô Lượng Thọ có nói: “Nhược
bất văng tích tu phước huệ, ư thử chánh pháp bất năng văn, nghĩa là
“Nếu nhiều đời trước không có tu phước huệ sâu dày th́ không thể nghe
được pháp môn niệm Phật này, cho dù chỉ là tạm thời nghe đến một chút
thôi cũng không thể được”. Cho nên câu này rất hay, bạn
phải đề cao tinh thần, nâng cao dũng khí, phải có đầy đủ tự tin, pháp
môn vô cùng thù thắng này hôm nay chúng ta có duyên gặp được th́ chúng
ta phải quư trọng.
[Phát Bồ Đề tâm tu thập thiện]
Kinh Vô Lượng Thọ nói ba bậc văng sanh đều phải
phát Bồ Đề tâm nhất hướng chuyên niệm. Phát Bồ Đề tâm được
nói rất tường tận trong “Tịnh Tông tâm yếu”, ở đây giới thiệu giản lược
như sau: Bồ Đề tâm là tâm kết hợp lại từ tâm đại trí huệ, đại từ bi, và
đại nguyện lực. Kinh Hoa Nghiêm nói ba tâm này cũng như đèn dầu cúng
Phật, phải có dầu, tim đèn, và ánh sáng, ba thứ thiếu một th́ không
được. Đây là nói Bồ Đề tâm là đèn, trí huệ từ bi và nguyện lực ba thứ
kết hợp lại làm thành đèn cúng Phật. Chúng ta thường niệm tứ hoằng thệ
nguyện: “Chúng sanh vô tận thệ nguyện độ, phiền năo vô biên thệ nguyện
đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện
chứng”, đây là thuận theo “sự” phát tâm. Thuận theo “lư” phát tâm th́
sao, đó là như kinh Kim Cang nói “Độ vô lượng vô biên chúng sanh, mà
thật không một chúng sanh được độ”. Đây đều là phá pháp chấp. Bạn cả
ngày độ sanh nhưng không có tướng ḿnh độ sanh. Phải phát khởi tâm Bồ Đề
và có đầy trí huệ sâu rộng như vậy.
[Tu thập thiện]. Nói chung, giáo
pháp của đức Thế Tôn lấy pháp Tam Thừa cộng vào Thiên Thừa và Nhân Thừa
làm thành Ngũ Thừa. Đây là sự giáo hóa toàn bộ của đức Phật. Quyết không
có người càng ngày càng giác ngộ mà c̣n làm ác như cũ. Nếu họ nói giác
ngộ là họ nói láo, người không làm chuyện tốt mà đ̣i thành Phật, đây là
chuyện khôi hài. Tu hành là chuyện của thiện nam tử, thiện nữ nhân làm,
mọi người đều dứt ác tu thiện. Giữ ngũ giới th́ được thân người, tu thập
thiện th́ được sanh cơi trời. Đối ngược với thập thiện là thập ác. Ba
điều ác của thân: sát sanh, trộm cắp, và tà dâm. Bốn điều ác của miệng:
nói láo, nói lời thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, và nói lời ác độc. Ba
điều ác của ư: tham, sân và si. Thập thiện là không làm thập ác và chận
đứng điều ác, không sát sanh mà c̣n phóng sanh, không tham mà c̣n bố
thí. Bởi vậy nói tu thập thiện sanh cơi trời đâu có dễ, tại v́ đây hoàn
toàn dựa vào sức lực của chính ḿnh. Niệm Phật phát nguyện văng sanh có
Phật lực gia tŕ; nhưng cũng không thể nói tôi niệm Phật chuyện thiện
này tôi có thể không làm, như vậy là sai lầm. Không chịu làm việc thiện
để làm lợi ích cho người khác th́ có Bồ Đề tâm không? Nếu không phát Bồ
Đề tâm th́ có thể văng sanh không? Bởi vậy cho nên phải tu thiện. Niệm
Phật là chánh hạnh, chúng ta phải bổ túc bằng thiệt nhiều trợ hạnh. Kinh
Vô Lượng Thọ nói rất tường tận, thế gian chúng ta có năm thứ ác, năm thứ
thống khổ, năm thứ thiêu đốt. Năm thứ ác là sát sanh, trộm cắp, tà dâm,
nói láo, và uống rượu (nói rộng ra là thập ác). Đời hiện tại chịu ác báo
là năm thứ thống khổ. Đời sau phải vô địa ngục là năm thứ thiêu đốt.
Trong kinh không ngừng khuyên răn và khuyến khích người đời phải tu thập
thiện.
[Phật nói vô thượng thâm diệu
thiền (Phật thuyết vô thượng thâm diệu thiền)
Người thường xem như pháp nông
cạn (Thiển nhân đương tác thiển
pháp khán)]
Phật nói niệm Phật A Di Đà là vô
thượng thâm diệu thiền. Nhưng mà có nhiều người ngược lại nói niệm Phật
là pháp thô thiển. Thiệt ra cái ǵ thô thiển vậy? Chính là người nói
rằng niệm Phật là pháp thô thiển, họ là thô thiển. Tại v́ chính họ nông
cạn cho nên nói pháp niệm Phật là nông cạn. Bởi vậy chúng ta phải phát
tâm ít có (hy hữu tâm) này, có thể nghe đến pháp môn này, có thể tin đến
pháp môn này đều là thiện căn thiện duyên tích lũy từ nhiều kiếp mà có.
Chúng ta phải trân trọng phải gắng sức, lúc này mặt trời chưa lặn hăy
mau đi về nhà.
[Oai nghi trang nghiêm nghiệp
thanh tịnh (Tứ nghi trang nghiêm tam nghiệp tịnh)
Kiên quyết giữ giới đừng để
phạm (kiên thủ trọng giới vật thiểu phạm)]
Tứ nghi là bốn oai nghi: đi, đứng,
nằm, ngồi. Chúng ta là người niệm Phật trong bốn oai nghi này phải đoan
chánh thân tâm làm cho trang nghiêm. Tam nghiệp là thân khẩu ư, tất cả
đều phải thanh tịnh không ô nhiễm. Trước hết là không được phạm các giới
chánh (trọng giới). Trong các giới lợi hại nhất là báng pháp (hủy báng
chánh pháp). Thí dụ nói Phật pháp là giả, sự báng pháp này th́ chúng ta
không có nói. Nhưng mà chúng ta cũng có khi báng pháp, nhiều lúc bạn hùa
theo người nói kinh điển nào đó là giả. Người đó thiệt là một thiện tri
thức, có người phỉ báng, bạn lại phụ họa vào và nói người đó thiếu đạo
đức. Tất cả những chuyện như vậy đều là báng pháp. Cố ư nói thêm th́
cũng không tốt. Nói thêm không đúng sự thật là “tăng ích báng”, cố ư nói
ít đi là “giảm tổn báng”. Tội báng pháp rất nặng, nhất là người thọ giới
rồi làm chuyện ác th́ so với người không thọ giới tội c̣n nặng hơn nữa.
Người không thọ giới giết chết ông Trương Tam, tương lai bị Trương Tam
giết lại th́ huề. Người thọ giới th́ khác, phá bốn trọng giới là tội địa
ngục. Nếu bạn phạm giới sát, bạn bị người đó giết lại th́ tất nhiên rồi,
nhưng mà bạn phải đọa địa ngục, lên núi đao xuống vạc dầu. Cho nên chúng
ta thọ giới rồi không thể không nghiên cứu giới, không thể không hiểu
rơ giới luật. Phải giữ giới, không được vi phạm. Nếu phá giới, th́ bạn
là đồ dùng bị lủng lỗ (lậu). Như cái chén bị lủng lỗ, trong chén đựng
đầy nước được một lúc th́ nước chảy thoát hết. Cho nên “kiên thủ trọng
giới” bốn chữ này phải nhớ kỹ trong tâm.
[Phá bỏ cửa nhân ngă thị phi
Buông bỏ b́nh sanh điều hiểu biết]
Có ta có người th́ có thị phi, có
thị phi th́ có thương ghét lấy bỏ, các thứ đối đăi không giống nhau, các
thứ phân biệt đúng sai. Từ đó sanh ra muôn thứ phiền năo không có ai
thoát ra được, cho nên gọi là cái cửa (quan). Đây giống như cái lao ngục
ở dưới đất vậy, một ḿnh làm “tượng tùy táng” (tượng người dùng để chôn
theo vua). Nguyên do của những chuyện ác đều từ một chữ “ngă” (tôi) làm
ra. Có ta là có người, vĩnh viễn không có lối thoát ra, cho nên xưng là
“quan”. Những chuyện thị phi này không có cách ǵ mà trốn thoát được.
Người xuất gia có ai biết được ở trong chùa những chuyện thị phi này có
ít hơn ở ngoài thế gian không? Cho nên nói, ôi chao, nếu biết trước như
vậy th́ chúng ta không xuất gia c̣n hơn. Những thứ nhân ngă thị phi này
không những người tại gia có, người xuất gia cũng có. Cái cửa thị phi
này, tức là tôi đúng anh sai, thị thị phi phi không phá được th́ không
thể nào tu hành được.
Bước thêm một bước nữa, [Buông bỏ
b́nh sanh điều hiểu biết] trong đầu chứa đầy những thứ tri kiến không
cần đến, tự cho là ḿnh rất có học thức, thiệt ra chỉ là một số tà kiến.
Nên buông bỏ hết những thứ này, quét sạch hết. Phải dụng công phu
trên chữ “xả”. Xả là xả bỏ những thứ tri kiến (sự hiểu biết) không cần
thiết này. Nhưng mà chữ xả này rất khó, xả thân dễ, xả bỏ tri
kiến rất khó. Trong thơ của thầy Hạ đều chỉ rơ ra những thứ cứu mạng căn
bản này.
[Nói huyền nói diệu không
liên can (Đàm huyền thuyết diệu bất tương can)
Ba chữ chánh truyền thật thà
niệm (Tam tự chánh truyền lăo thật niệm)]
Miệng nói huyền mà tâm chưa thấu rơ,
lời nói cao siêu mà hành vi xấu xa, cho dù ăn nói rất lưu loát, viết
sách nổi tiếng, được danh xưng Phật học tiến sĩ danh dự, đối với người
và đối với ḿnh có ǵ thật ích, đối với sanh tử đại sự hoàn toàn không
có liên can ǵ. Sự hiểu biết càng nhiều chướng ngại về “lư thể” càng sâu,
so với những phiền năo và chướng ngại về “sự” càng khó diệt trừ. Nói
chung là lấy dây tự trói ḿnh, muốn tiến lên ngược lại bị tụt xuống.
Người chân thật dĩ nhiên không chịu như vậy mà c̣n phát tâm Vô Thượng Bồ
Đề, noi theo lời dạy của đức Phật Thích Ca và Di Đà nguyện hải, chỉ tu
niệm Phật. Trong diệu pháp niệm Phật chỉ tu tŕ danh niệm Phật, duy chỉ
thật thà niệm một câu hồng danh. Không cầu nhất tâm, không trừ
vọng tưởng, không tham tịnh cảnh, không tham (niệm Phật) là ai.
(Bốn điều trên đây được xưng là bốn bí quyết của pháp niệm Phật). Chỉ là
một câu Nam mô A Di Đà Phật, câu sau nối liền theo câu trước. Đây chính
là vô thượng thâm diệu thiền, đây mới là chân truyền của đức Phật Thích
Ca. Thiện Đạo đại sư có nói: “Nguyên do đức Phật Thích Ca xuất hiện ở
thế gian chúng ta cũng chỉ là muốn nói Di Đà bổn nguyện hải”. Ngẫu
Ích đại sư nói: “Một câu niệm Phật hiệu là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề mà đức Thế Tôn đắc được”. Chỉ có thiệt niệm Phật mới là
chân truyền của tất cả giáo pháp.
[Đó là cây đèn trong đêm tối
Thuyền trong biển khổ, kiếm chém ma]
Chỉ có thiệt thà niệm Phật là cây
đèn chiếu sáng trong đêm dài đen tối của chúng sanh, là con thuyền ra
khỏi biển khổ, cây bảo kiếm “kim cang vương” chém trừ ma chướng. Quan
trọng là ở chữ “thiệt thà” (lăo thật), người đời coi thường “thiệt thà
và b́nh thường”. Tịnh ngữ có câu: “Đạo tại b́nh thường trung, tích
quân vi hiểu thử, tạm dịch: “đạo là ở trong b́nh thường, tiếc là
người thường không hiểu”.
[(Nếu muốn) Nhổ gốc sanh tử
trong nhiều kiếp
(Phải) Liều thân này làm kẻ ngu ngốc]
Chúng ta được sanh làm người, được
nghe Phật pháp, được tin pháp môn Tịnh Độ, thật là nhờ nhiều đời tu hành
mới có được. Chúng ta đă là tu hành nhiều kiếp, tại sao hôm nay c̣n lưu
lạc trong chốn luân hồi, trong biển sanh tử trồi lên, lặn xuống? Cũng
tại v́ gốc rễ căn bản của sanh tử rất khó diệt trừ. Bởi vậy cho nên
chúng ta phải phát chí nguyện lớn, quyết định ngay trong đời này,
nhổ tận gốc rễ căn bản của sanh tử trong nhiều kiếp.
Đây là chí lớn thấu trời cao, là chuyện vĩ đại chưa từng xảy ra trong
nhiều kiếp, đại tâm muốn tự giác và giác tha, cho nên phải liều mạng
không lo đến thân này để diệt trừ mọi sự khó khăn. Cũng như trong ṿng
bao vây trùng điệp của quân địch liều mạng t́m ra một con đường thoát
thân. Đây là cuộc chiến đấu giữa nghiệp lực và ta (chân tâm). Phải dùng
vơ khí thiệt, không phải đánh giả vờ biểu diễn trên sân khấu, cho nên
phải liều mạng này làm như một kẻ ngu ngốc, không làm một người thông
minh mưu kế xảo quyệt. Họ từng giờ từng phút cũng đều đầu cơ thủ xảo,
xem xét t́nh thế, kết giao với quyền quư, đoạt danh lợi, gạt gẫm người,
không ngừng dùng các thứ mưu kế, đến cuối cùng th́ người chịu thiệt tḥi
cũng là ḿnh mà thôi. Người muốn cùng chúng sanh thoát biển khổ sanh tử
tất nhiên phải diệt trừ những hành vi này, mặc cho người đời chê cười
ḿnh là một kẻ ngu ngốc th́ cũng không hối hận. Thiền sư Tống Cao Phong
(thầy của quốc sư Nguyên Trung Phong) v́ tham câu thoại đầu “khi không
nằm mộng, chủ nhân Ông ở tại đâu để an thân lập mạng”, nên thề là: “Liều
một đời này làm kẻ ngu ngốc, quyết phải hiểu rơ ngay trong lúc này”. Quả
nhiên năm năm sau ngài đại triệt đại ngộ.
[Năm tông Tám giáo một câu
tóm (Ngũ tông Bát giáo nhất cú thâu)
Đừng ở ngoài niệm t́m phương
tiện (Thiết mạc niệm ngoại mích phương tiện)]
Năm tông là Thiền Tông “Một hoa nở
năm cánh” (Nhất hoa khai ngũ diệp). Năm tông là phái Lâm Tế, Tào Động,
Quy Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhăn. Bát giáo là Giáo hạ, Thiên Thai tông lập
ra Hóa pháp tứ giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên và Hóa nghi tứ giáo: Đốn,
Tiệm, Bí Mật và Bất Định, tổng cộng là tám giáo. Năm tông trong Thiền
Tông và tám giáo trong Giáo hạ đều tóm thâu trong câu Phật hiệu này.
Ngẫu Ích đại sư nói:
“Tam Tạng mười hai bộ kinh
luận, tất cả giới luật, và Thiền tông một ngàn bảy trăm công án cũng đều
ở gọn trong câu Phật hiệu này”. Lại nói tất cả
thiền định cũng đều nằm trong câu Phật hiệu này, cho nên mới biết câu
Phật hiệu này có đầy đủ công đức, tức là tổng tŕ đà la ni. Cho
nên tuyệt đối không nên trong khi niệm Phật lại đi t́m những pháp môn
cao siêu, t́m con đường phương tiện nào nữa, đó đều là tự làm khổ ḿnh
(dung nhân tự nhiễu).
[Chậm quá nhanh quá đều là
bịnh
Càng mong nhất tâm tâm càng loạn]
Bài trước nói âm thanh niệm Phật
lớn nhỏ, tiết tấu không nên gián đoạn. Đoạn này nói niệm không được quá
nhanh hoặc quá chậm. Quá chậm th́ vọng tưởng dễ khởi lên và tạo nên
“bệnh nuôi dưỡng thức”. Quá nhanh th́ dễ khẩn trương, tai nghe tiếng
niệm Phật không rơ ràng ảnh hưởng rất lớn. Bởi vậy cho nên chậm quá và
nhanh quá đều không tốt, phải biết điều ḥa tốc độ cho thích hợp. Phương
pháp thường có hiệu quả là mới bắt đầu th́ niệm chậm một chút, từ từ
niệm nhanh lên, cho đến khi không nhanh hơn được nữa th́ dừng lại, rồi
sau đó bắt đầu trở lại từ đầu. Lúc niệm không trừ vọng tưởng, không cầu
nhất tâm. Đây là nội dung chính của bốn bí quyết niệm Phật. Tú tài
Trương Chuyết đời Đường có câu thơ rất nổi tiếng: “Dục đoạn vọng tưởng
trọng tăng bịnh” (tạm dịch Càng muốn trừ vọng tưởng càng thêm tệ). Tại
v́ càng muốn trừ vọng tưởng th́ là “trừ một cộng thêm hai”. Cùng một đạo
lư như vậy là không cầu nhất tâm. Đang lúc niệm Phật th́ không cầu nhất
tâm hoặc là phân biệt tính toán xem xét coi ḿnh được nhất tâm chưa. Đây
không c̣n là “thật thà niệm” mà là hữu vi pháp.
[Chí cứng như sắt, dạ như tơ
(Chí kiên như cương khí như miên)
Không gián không tạp tự thành
phiến
(Bất gián bất tạp tự thành phiến)]
Thệ nguyện phải cứng rắn như sắt
thép. Lúc đức Phật Di Đà c̣n ở thời kỳ tu nhân có phát nguyện là: “Cho
dù thân này có mất trong sự khổ th́ nguyện tâm cũng vĩnh viễn không
thoái chuyển”, đây là dạy cho chúng ta câu “Chí cứng như sắt”. Chí phải
cứng rắn nhưng tâm phải nhu nhuyễn. Nếu cố chấp ư kiến của ḿnh th́ trở
thành người cang cường khó giáo hoá, họa hại không ǵ hơn. Trong kinh Vô
Lượng Thọ có nói người ở cơi Cực Lạc có “thân tâm nhu nhuyễn”. Khí như
miên là nói tâm ư nhu nhuyễn, tự nhiên dễ được giáo hoá.
Trong lúc niệm Phật không được gián
đoạn và tạp loạn. Không gián không tạp (không gián đoạn và không tạp
loạn) th́ niệm Phật tự nhiên dễ thành phiến. Nếu đạt được nhất tâm bất
loạn th́ tất phải đạt được Niệm Phật Bảo Vương tam muội.
[Nhân tâm quả Phật cùng cảm
ứng
Thân thể cảnh giới dần chuyển biến]
Chúng ta niệm Phật là tu hành trong
nhân địa (thời gian tu nhân của Bồ Tát). Cái tâm của chúng ta hiện tại
đang niệm Phật là cái tâm trong nhân địa gọi là “nhân tâm”. Cái niệm
chúng ta đang niệm là Phật A Di Đà, Phật là vị đă đắc quả Giác Ngộ gọi
là “quả Phật”. Lúc chúng ta niệm Phật, “nhân tâm” của chúng ta và “quả
Phật” của Phật A Di Đà hỗ tương cảm ứng lẫn nhau. Trong tâm của chúng ta
bao gồm vạn đức của Phật A Di Đà. Tâm của Phật trùm khắp mọi nơi (biến
măn nhất thiết xứ); chúng ta đang niệm Phật là niệm trong tâm Phật, Như
Lai đều thấy đều biết, không có chút nào có thể làm giả dối được. Hơn
nữa, tâm của chúng ta và tâm của Phật cũng đều trùm khắp mọi nơi, cho
nên Phật cũng có ở trong tâm của chúng ta. Tại v́ sao chúng ta có thể
niệm Phật được? Tại v́ Phật đang niệm chúng ta, Phật đang nhiếp thọ
chúng ta đó. Nếu Phật không nhiếp thọ th́ chúng ta bị phiền năo trói
buộc không thể niệm Phật được. Lúc chúng ta niệm Phật là lúc Phật niệm
chúng ta, nhân tâm quả Phật cảm niệm lẫn nhau, cảm ứng đạo giao th́
không thể nghĩ bàn. Cho nên từ từ làm cho căn thân (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, và ư) và cảnh giới bên ngoài của chúng ta dần dần thay đổi, tự
nhiên chuyển hóa cải tiến. Cho nên mới nói [Thân thể cảnh giới dần
chuyển biến (Căn thân khí giới tiềm chuyển hoán)]. Khí giới là tất cả
vạn vật, núi sông đại địa, lớn tới cả thế giới, nhỏ th́ đến hạt bụi (vi
trần). Tất cả mọi thứ này trong lúc chúng ta niệm Phật, tự nhiên không
hay không biết dần dần thay đổi chuyển biến (trở nên tốt).
Chuyện này c̣n khó hiểu hơn chuyện
thân tâm của chúng ta tùy theo tự tâm và chỗ cảm ứng của chư Phật mà tạo
nên những sự biến hóa. Nên biết tự tâm và ngoại vật là không hai. Kinh
Hoa Nghiêm có nói: “tri nhất thiết pháp giai thị tự tâm”, tạm
dịch là “Biến tất cả các pháp đều là tự tâm”. Khởi Tín Luận nói:
“Tam giới hư vi, duy tâm sở tác”, tạm dịch “Tam giới
tất cả đều do tâm tạo”. Duy Thức Xu Yếu nói: “Chư cảnh vô thể,
tùy chấp nhi sanh, nhân tự tâm sanh, hoàn dử tâm vi tương”. Tất
cả đều giải thích rơ đạo lư “tâm vật không hai, vật và ta là một”. Cổ
Thiền Sư nói: “Khắp đại địa cũng như một con mắt của sa môn”,
nghĩa là nói cả quả địa cầu này là một con mắt của ông sư. Mặt đất bao
la vậy cũng chỉ là một con mắt của tự thân, lúc niệm Phật là “nhân tâm”
và “quả Phật” cảm ứng lẫn nhau. Tất cả nhật nguyệt, tinh tú, nam nữ, già
trẻ bao gồm trong “nhân tâm” làm sao không chịu sự cảm hóa của “nhân tâm”?
Cho nên người thiệt t́nh dụng công th́ tất cả thế giới vạn vật đều
chuyển biến trở nên tốt đẹp hơn, trở nên thích hợp hơn, càng chuyển biến
thành thích hợp với bạn và sự tu hành của bạn. Thí dụ có người là v́ oan
nợ đến gặp bạn, bạn niệm Phật th́ từ từ oan nợ của bạn và người đó được
hóa giải. Chúng ta nên biết một địa phương nào có người dụng công,
nguyên vùng đó sẽ được lợi ích. Chúng ta đừng cho rằng niệm Phật là tiêu
cực ích kỷ, một người niệm Phật chân chánh tạo phước cho cả vùng đó.
Không những họ tạo phước cho vùng đó, mà c̣n tạo phước cho cả địa cầu,
họ c̣n tạo phước cho cả pháp giới luôn. Tất cả không có ǵ là không thể
chuyển biến được. Cho nên chúng ta có chuyện phiền năo ǵ th́ đều nên
chăm chỉ niệm Phật hiệu này. Nhưng mà tại sao những chuyện phiền năo này
luôn t́m đến phá khuấy bạn hoài vậy? Tại v́ bạn dụng công không được đắc
lực. Nếu bạn dụng công đắc lực rồi th́ nó sẽ không phá khuấy bạn nữa.
Tất cả ta và mọi người, tất cả thế giới đều từ từ âm thầm thay đổi. Cho
nên người xưa khi đi đến một địa phương lạ, họ làm sao biết được chỗ đó
có người hiền đức? Họ biết được là nhờ xem xét cây cối sông núi cảnh vật
ở đó, nếu quả là có người đắc đạo ở chỗ đó, tất cả vạn vật ở đó đều khác
hẳn.
[Phiền năo chưa dứt niệm
không nhất
Tập khí không trừ Phật không hiện]
Phiền năo tích lũy từ nhiều đời
nhiều kiếp nên rất khó phá trừ. Nếu chưa đoạn trừ được trước hết phải đè
dẹp nó. Cũng như một ly nước đục có quá nhiều chất đục không thể dùng
được. Cho nên phải để yên cho chất đục lắng xuống đáy. Nước ở trên trong
rồi th́ có thể dùng được. Nước trong là thí dụ cho tâm niệm chuyên nhất.
Chất dơ bẩn chưa lắng xuống cũng tỷ như phiền năo chưa đè dẹp. Lư tự
nhiên là như vậy không thể miễn cưỡng. Những thói quen xấu tích tụ lâu
c̣n lại th́ gọi là tập khí. Thí dụ như hạt giống sân hoặc của tôn giả Xá
Lợi Phất đă cắt đứt, nhưng cũng c̣n dễ phát nộ (giận), đây gọi là tập
khí. Thầy Hạ có hai câu khai thị rất hay “Tŕ giới niệm Phật xem
kinh giáo, xét sai lỗi cũ đừng tự gạt”, cho nên mới biết tập khí
lỗi cũ rất quan trọng. Hoàn toàn trừ hết tập khí chỉ có Phật mới làm
được, cho nên ở đây nói trừ tập khí không phải trừ dứt hết, mà là muốn
bạn tích cực diệt trừ nó. Phật là người giác ngộ “Phật hiện” nói theo
cách thông thường ở đây là nói Phật hiện hào quang, nhưng càng quan
trọng hơn là chỉ cái tâm đại giác. Cái tâm đại giác này không thể hiện
ra được nếu tập khí không dứt trừ.
[Lúc ngàn vạn câu như một câu
Đâu lo không thấy mặt Di Đà]
Có hai cách giải thích:
1. Niệm một ngàn một vạn câu Phật
hiệu cũng rơ rơ ràng ràng giống như lúc chỉ niệm một câu, không có tạp
niệm. Niệm một câu rất rơ ràng, người niệm Phật cũng có khi được như vậy
nhưng mà kéo dài đến một ngàn một vạn câu đều thanh tịnh giống như vậy,
tự nhiên văng sanh Cực Lạc thế giới, hoa nở thấy Phật, c̣n lo buồn cái
ǵ, c̣n lo sợ không thấy Phật Di Đà sao?
2. Một ngàn một vạn câu giống như
một câu. Một câu này cũng giống như một ngàn một vạn câu, bỏ hết số
lượng. Nhứt đa tương tức (nhiều ít ǵ cũng giống nhau) (một tức là
nhiều, nhiều tức là một), vượt ra khỏi “t́nh” ra khỏi “kiến giải”, không
thể nghĩ bàn. Tại v́ không thể nghĩ bàn, tôi đương nhiên không viết
nhiều nữa, không vẽ thêm chân vào h́nh con rắn nữa.
[Chuyện này không dễ cũng
không khó
Tam muội đều nhờ Tín Nguyện Hạnh]
Cả nhà Bàng cư sĩ đời Đường rất
được sùng bái trong Thiền tông.
Ông Bàng nói: “Nan bất nan, bách
đảm ma dầu thọ thượng thán?”, tạm dịch
“khó hay không khó, một
trăm gánh dầu mè đặt để trên cây?”
Bà Bàng đáp: “Bách thảo đầu
thượng tổ sư ư”, tạm dịch:
“Trên trăm ngọn cỏ tổ sư ư”.
Người con gái tên Linh Chiếu nói: “Bất
nan diệc bất dị, nga lai thực phạn khốn lai thùy”, tạm dịch:
“Không khó cũng không dễ, đói th́ ăn cơm mệt th́ ngủ”.
Lăo thật niệm Phật tức là vô thượng
thâm diệu thiền.
“Bổng đả thạch nhân đầu, bộc bộc
luận thật sự”, tạm dịch: “Gậy đánh đầu người đá, phô bày rơ sự
thật này”. Ai nói với bạn khó với dễ, nếu nói khó và dễ, cổ Phật quá
khứ đă qua lâu rồi.
Tam muội chỉ niệm Phật tam muội, là
vua trong các thứ tam muội, cho nên xưng là Bảo Vương tam muội. Muốn
chứng được tam muội này chỉ cần Tín Nguyện Hạnh, ba thứ tư lương. Tín
cần phải tin sâu, như sáu thứ tín của Ngẫu Ích đại sư nói, như chánh tín
của Tiệt Lưu đại sư nói. Nguyện cần phải nguyện thiết tha, hạnh là thiệt
thà lăo thật niệm Phật.
Bài thứ ba: LĂO THẬT NIỆM
Nguyên văn
Đán chỉ lăo thật niệm
Bất tất vấn như hà
Mạc quản đồng dữ dị
Hưu luận tự dữ tha
Chỉ quư nguyện lực cường
Ná phạ vọng tưởng đa
Tán loạn cố thành bịnh
Phân biệt dị nhập ma
Cảnh duyên vô hảo xú
Phật hiệu nhất tảo quá
Cú cú niệm năng chân
Quyết định xuất Sa Bà
<