NHẮC NHỞ TU HÀNH
Khai Thị 17/7 Tân Mão của Đại Lão HT. Thích Trí Tịnh

..."Đời
sống con người ngắn ngủi không bền lâu. Chỉ vì
chúng ta là phàm phu mê tối được một ngày thì
cho là dài lâu, được một tháng hay một năm lại
lầm tưởng là lâu hơn. Kỳ thật thời gian qua rất
mau do đó mình phải tranh thủ thời gian ngắn
ngủi này đừng để lãng phí. Ngày tháng qua mau,
các huynh đệ lấy ĂN CHAY làm nền tảng, luôn lấy
việc NIỆM PHẬT, TỤNG KINH làm Công Đức Xuất Thế.
Từ những điểm này gắng sức giữ gìn, rồi tu thêm
các việc lành khác. Mong các huynh đệ ai nấy đều
nhất tâm tinh tấn, vững bền ở trong Giáo Pháp
của Phật. Phải khắc ghi hai chữ VỮNG BỀN này".
Tôi năm nay đã 95 tuổi, ngày giờ đã đến lúc phải
mãn. Tôi cũng cố gắng lắm, kỳ thật những người
bạn đồng tu cùng thời với tôi đều đã theo Phật
từ lâu. Tôi còn ở trên đời để gặp mặt tất cả các
huynh đệ là điều hy hữu lắm. Tôi tuổi đã cao,
sức khỏe cũng yếu không thể nói nhiều nên chỉ
nói những điều cốt yếu để nhắc nhở tất cả các
huynh đệ.
Trong việc tu hành, Quả Vị cao của các bậc Thánh
chính yếu là nương nơi Lý Tánh (Tánh Không).
Nhưng chúng ta đều là người sơ cơ, trong Sáu Nẻo
Luân Hồi dù rằng may mắn được thân người nhưng
vẫn còn lẩn quẩn trong vòng sanh tử, nói thẳng
đều là phàm phu tục tử. Cho nên mình phải biết
căn cơ và vị trí của mình trong hiện tại để bước
đi cho vững chắc. Vì sao như vậy? Vì ngày,
tháng, năm, tuổi không chờ đợi. Trong Kinh nói,
những cõi nước khác thọ mạng người dân tính bằng
số kiếp, tính theo thời gian ở cõi này không
biết bao nhiêu triệu năm. Còn thọ mạng của loài
người ở cõi này chỉ mấy mươi năm, rất ngắn ngủi.
Một ngày ở cõi Trời Tứ Thiên Vương bằng 50 năm ở
cõi người, còn ở cõi Trời Đao Lợi thì một ngày
bằng trăm năm ở cõi người. Thế nên đời sống con
người ngắn ngủi không bền lâu. Chỉ vì chúng ta
là phàm phu mê tối được một ngày thì cho là dài
lâu, được một tháng hay một năm lại lầm tưởng là
lâu hơn. Kỳ thật, thời gian qua rất mau do đó
mình phải tranh thủ thời gian ngắn ngủi này đừng
để lãng phí.
Tôi từ lúc vào chùa, biết được Phật Pháp, trước
tiên là tụng thuộc lòng KINH PHỔ MÔN. Các huynh
đệ nên nhớ tụng nghĩa là phải thuộc lòng. Tôi
biết được công hạnh của Bồ Tát QUÁN THẾ ÂM liền
nghĩ rằng: Bồ Tát QUÁN THẾ ÂM làm lợi ích rộng
lớn cho chúng sanh như thế, mình cũng phải làm
gì để đem lại lợi ích cho mọi loài? Mình bây giờ
lẩn quẩn chỉ lo ăn, lo uống, hoàn cảnh xung
quanh toàn là những chuyện phàm phu tục tử,
phiền não nghiệp chướng. Từ đó tôi mới lập chí.
Tôi thường ra nơi thờ Ngũ Hành trong Chùa Vạn
Linh (Núi Cấm) ở đó thanh vắng, một mình để học
thuộc Kinh. Chỉ trong hai tháng, thời công phu
sáng chiều, tôi thuộc làu hết. Lúc tôi xuất gia
vô chùa không có Áo Tràng để mặc. Mỗi khi tụng
Kinh ở Chánh Điện thì tôi phải mượn. Lúc đó có
cô Phật tử cúng bốn thước vải nâu, yêu cầu tụng
60 biến Phẩm Phổ Môn. Các thầy bảo tôi nên nhận
lãnh phần này để được vải Nâu may Áo Tràng mặc
đi tụng Kinh. Tôi hứa nhận, chỉ một ngày tôi
thuộc Phẩm PHỔ MÔN. Nhờ đó tôi biết rõ bổn phận
của mình phải làm gì để lợi ích chúng sanh,
trong khi thời gian lại quá ngắn. Tôi sức khỏe
lại yếu kém, trong đại chúng là người ốm yếu
nhất.
Tôi biết chữ Hán, nên chùa giao việc viết sớ cầu
an cầu siêu. Lúc đó lá sớ phải viết sẵn bằng
tay, khi có việc thì điền tên thí chủ vào. Do đó
chùa cất cho tôi cái cốc, chiều ngang 1,5m ,
chiều dài 2,5m làm bằng tranh, tre. Tôi lấy tấm
ván làm cái bàn để trên đầu giường, ngồi trên
đầu giường để viết sớ. Nhưng tôi mượn việc viết
sớ để có chỗ tịnh tu, giành thời gian tụng Kinh
niệm Phật thêm bốn thời nữa, chưa tính thời khóa
nơi Chánh Điện của chùa. Tôi lại nghe nói tu
hành phải khổ hạnh nên không ngủ, đến nỗi ngồi
thọ trai mà chén cơm rơi xuống đất lúc nào cũng
không hay. Tôi không ăn cơm, chỉ ăn rau rừng,
đến khi đi lên những dốc cao trên núi bước lên
không nổi. Cuối cùng tôi từ bỏ lối tu này. Về
sau, tôi đọc Tạp Chí Từ Bi Âm (tờ báo này mỗi
tháng đều được gởi lên tận chùa) của Hội Nam Kỳ
Nghiên Cứu Phật Học, trụ sở đặt tại Chùa Linh
Sơn (Sài Gòn). Trong tạp chí ấy, tôi đọc được
một đoạn KINH PHÁP, trong tâm rất vui thích (lúc
đó là năm 1938). Qua năm sau, tôi nghĩ phải đến
trường để học Phật Pháp, vì có học có hiểu biết
đúng thì tu hành mới đúng Chánh Pháp.
Năm 1940, tôi ra Huế được học ở Trường Phật
Học Báo Quốc. Tôi đọc Kinh Quán Vô Lượng Thọ, y
theo đó lập hạnh cho mình. Trong Kinh nói:
"Người muốn sanh về Cực Lạc phải có Ba
Hạnh: 1. Tin sâu nhân quả. Tôi từ trước đến giờ
biết điều nào lành thì làm, điều nào ác thì
tránh. Nên đối với đạo lý nhân quả cũng rất tin
tưởng; 2. Đọc tụng kinh điển Đại Thừa; 3. Khuyến
tấn hành giả".
Cuộc đời tu hành của tôi nhất định phải làm được
Ba Điều này để sanh về Thế Giới Cực Lạc. Hiện
tại, tôi nhận thấy những điều này đã đem lại kết
quả tốt, tương lai cũng tốt. Tôi y theo Điều Thứ
2 (đọc tụng kinh điển Đại thừa) nên hễ thích
Kinh nào thì tụng thuộc lòng Kinh đó. Nhờ tụng
thuộc lòng, dù ở hoàn cảnh nào, đi đứng nằm ngồi
đều có thể tụng Kinh được. Còn ở Chánh Điện
trước bàn Phật mở Kinh ra thì gọi là đọc. Cho
nên ý nghĩa giữa đọc và tụng rõ ràng không nên
hiểu sai lệch.
Năm 1945, lúc nhập thất 49 ngày tại Chùa Kim Huê
(Sa Đéc), ban ngày tôi xem Tạng Luật, ban đêm
thì đọc KINH HOA NGHIÊM. Lúc đến Phẩm PHỔ HIỀN
HẠNH NGUYỆN lòng tôi vui mừng như người đi xa
được trở về cố hương, cảm thấy rất quen thuộc,
chỉ mấy ngày thôi tôi đã thuộc lòng Phẩm Kinh
này. Từ đó,tôi lập thời khóa riêng của mình:
tụng Phẩm PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN, bài kệ Phẩm
Phương Tiện trong KINH PHÁP HOA, Phẩm PHỔ MÔN,
KINH A DI ĐÀ, rồi niệm Phật hồi hướng Tây Phương
Cực Lạc.
Năm 1947, tại Trường Liên Hải Phật Học, vào đêm
30 tháng 3 âm lịch, tôi chợt nghĩ: mùng 8 tháng
4 âm lịch này là lễ Phật Đản, mình lấy gì để
cúng dường lên Đức Phật? Mình nhất định phải học
thuộc KINH KIM CANG để đến ngày đó cúng dường
Phật. Đến ngày mùng 7 tháng 4 âm lịch, tôi nhờ
Thầy Tắc Phước (bây giờ là Hòa thượng trụ trì
Chùa Phước Huệ ở Úc), cầm bút dò theo. Nếu tôi
đọc sai thì biết để sửa. Tôi tụng Kinh xong thì
Thầy Tắc Phước nói không sai chỗ nào hết. Từ đó
trở về sau, tôi đưa thêm KINH KIM CANG vào thời
khóa của riêng mình thành Năm Bộ Kinh: KINH PHỔ
HIỀN HẠNH NGUYỆN, KINH KIM CANG, bài kệ Phẩm
Phương Tiện trong KINH PHÁP HOA, Kinh PHỔ MÔN,
Kinh A DI ĐÀ, rồi niệm Phật hồi hướng về Cực
Lạc. Tôi giữ kỹ thời khóa tu tập, mỗi ngày đều
phải thực hành đều đặn chưa từng bỏ sót.
Tôi nói chân thành với các huynh đệ rằng, sự
tướng không thể bỏ được. Lấy sự tướng của việc
tụng Kinh, niệm Phật để chống lại sự tướng của
Ba Độc: tham, sân, si, phiền não, già, bệnh,
chết. Ngày tháng không thể bỏ qua, nó thúc đẩy
mình tiến đến chỗ chết mà thôi. Như tôi năm nay
95 tuổi, qua sang năm là 96 tuổi, không thể trở
lại 94 tuổi được. Thân này mầm bệnh tật bao vây
từ trong đến ngoài, nó luôn chờ dịp để sanh khởi
lên. Còn trước mặt là tấm bảng già yếu, bệnh
tật, chết chóc, chui đầu vào đó mà thôi. Ai cũng
phải đến chỗ đó hết, chỉ sớm hay muộn. Thân này
là như vậy, kết cuộc của thân là như vậy. Mọi
người phải nhận hiểu rõ ràng, chớ nên mê lầm.
Tôi cũng có Ba Điều để dìu dắt mọi người, xuất
gia cũng như tại gia. Vì người tin được thì sẽ
thực hành theo:
1. ĂN CHAY phải thiết thực. Vì
mỗi ngày ăn thịt chúng sanh thì điều ác nào
chẳng dám làm, việc thiện nào có thể sanh khởi
được? Bởi vì loài vật bị giết bị nấu bị nướng
thì con người mới có thịt ăn. Vả lại, đạo Phật
lấy Từ Bi làm chánh, nhưng ăn thịt chúng sanh
thì đâu còn Từ Bi nữa. Ăn chay có những lợi ích
gì:
· Không vướng mắc vào nhân quả của Nghiệp Giết
Hại. Nghiệp Sát Sanh ở thế gian rất nặng, vì
chúng sanh bị bắt giết thì chúng ta mới có thịt
ăn.
· Ăn chay vì tình thương không nỡ ăn thịt loài
vật. Tình thương phát sanh thì mong muốn mọi
loài đều được an vui, do đó làm các việc lành.
Như thế Tâm Từ đã sanh ra. Ví như mình thương
người em, người cháu thì đâu muốn nó khổ, đã
không muốn nó khổ thì không làm những việc bất
thiện. Do vậy, Tâm Bi cũng sanh khởi mà làm các
việc lành. Tâm Từ Bi có được cội gốc do ăn chay
mà thành. Thuở nhỏ những người bạn trong xóm sắm
giàn thun để bắn chim, tôi cũng làm theo. Bạn bè
sắm cần câu để câu cá, tôi cũng sắm cần câu đi
câu theo. Từ lúc biết ăn chay, tôi thấy con gà,
con chim,các con vật khác thì thương nó lắm. Nếu
người ăn thịt thì tình thương không thể phát
sanh. Ví như chúng ta có con em, mỗi ngày mình
ăn thịt nó mà cho rằng thương nó thì không được.
Tình thương phát sanh ảnh hưởng nơi “Từ” thì làm
lành, nơi “Bi” thì không làm ác. Điều Thiện Lành
thì tăng thêm, việc Xấu Ác ắt giảm dần và dứt
sạch. Như vậy chúng ta ăn chay tự nhiên làm được
hai việc mà Đức Phật từng dạy: “Từ bỏ các việc
ác, luôn làm các việc lành”. Do đó Tâm Từ Bi là
cội gốc để đi lên con đường Hiền Thánh.
2. Trong KINH LĂNG NGHIÊM, đoạn Đức Phật nói BA
MÓN TIỆM THỨ. Trước tiên không được ăn Ngũ Tân
(Hành, Hẹ, Tỏi, Nén, Hung Cừ). Vì tính chất của
Ngũ Tân làm tăng tham dục và sân hận, ảnh hưởng
của nó là quyến rũ Ngạ Quỷ, Chư Thiên cùng Thiện
Thần đều tránh xa. Nó hay trợ giúp phát sanh
Nghiệp Phiền Não. Cách đây ít hôm, có người xưng
là Quỷ Vương nói: “Tôi lên đây để đấu với Hòa
Thượng, nếu Hòa Thượng thua thì tất cả binh
tướng của tôi sẽ chiếm chỗ này”. Sáng hôm đó,
tôi đang ngồi uống thuốc Tam Tài thấy có một
người đàn ông và một người đàn bà. Người đàn ông
thì đứng chắp tay, còn người đàn bà thì uốn mình
như con rắn (có thể thuộc loài Ma Hầu La Già)
rồi quỳ xuống lạy, lạy xong rồi đi xuống. Tâm
tôi cũng không để ý chỉ nhìn thấy vậy thôi. Sau
đó tôi nghe mấy Thầy nói họ lên Chánh Điện ngồi
niệm Phật một ngày một đêm. Các Thầy kể lại đã
hỏi họ rằng: “Sao không thấy đấu với Hòa Thượng
mà quỳ lạy rồi đi xuống?”. Người kia nói: “Tôi
nhìn thấy Hòa Thượng sợ quá nên quỳ xuống lạy
chứ không dám làm gì hết”.
Các Thầy hỏi, lúc đó Sư Ông có bắt ấn hay niệm
Chú gì không? Thật ra, tâm tôi không để ý tới.
Tôi nói việc này để các huynh đệ biết, mình sống
ở đây các loài Ngạ Quỷ hạng cao đầy dẫy. Cho nên
Phật nói, nếu ăn Ngũ Tân sẽ ảnh hưởng đến các
loài đó. Bây giờ nhiều chùa ngập tràn mùi vị Ngũ
Tân. Cho đến các chùa xung quanh Tỏi, Hành (Ba
Rô) treo đầy trong nhà bếp. Các huynh đệ muốn
giữ điều này cũng khó lắm, vì mỗi ngày phải đi
đám, người ta nấu thức ăn bỏ hành bỏ tỏi, nếu
không dùng thì nhịn đói. Do vậy tôi không đi dự
các đám cúng. Từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ
dùng Năm Thứ Rau Cay này. Có khi xuống Chùa Huệ
Nghiêm (Bình Chánh) tôi phải dặn không được bỏ
Ngũ Tân vào thức ăn. Lúc đến các chùa dùng cơm
chay mà có mùi vị này thì tôi chỉ ăn chút cơm và
bánh ngọt rồi về.
3. Từ trên nền tảng đó tu hành CHÁNH NIỆM: niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Niệm Phật là trì
niệm danh hiệu Nam Mô A DI ĐÀ Phật. Niệm Pháp là
tụng Kinh. Niệm Tăng là niệm danh hiệu Bồ Tát
QUÁN THẾ ÂM, Bồ Tát ĐẠI THẾ CHÍ, Bồ Tát ĐỊA TẠNG
VƯƠNG. Trong đó lấy niệm Phật làm chánh, mỗi
ngày đều thực hành như thế thì Chánh Niệm dần
dần tăng lên, Thiện Căn cũng từ đó thêm lớn,
Công Đức và Phước Đức cũng từ đó tăng trưởng.
Trong sinh hoạt hàng ngày, có những điều giúp
mình tăng Phước và giảm Phước mà chúng ta không
để tâm lưu ý. Trong Mười Đại Nguyện Vương của Bồ
Tát PHỔ HIỀN, Điều Nguyện Thứ Năm là “Tùy hỷ
công đức” dễ thực hành lắm, lấy công đức của
người làm công đức của mình. Đây là Pháp tu
thong thả nhẹ nhàng. Đối với các việc lành của
người, chúng ta không vui mừng lại còn ngăn cản
chê trách thì tổn phước. Còn tùy hỷ (vui mừng
theo) thì Phước Đức tăng thêm. Chẳng hạn có
người xây một ngôi nhà lớn, khách bước vào khen
ngợi khang trang mát mẻ thì người chủ liền vui.
Một người khác lại cho rằng, nhà rộng quá dọn
dẹp mệt thêm. Người chủ nghe được cũng hơi buồn.
Như lúc xây Chánh Điện Chùa Vạn Đức, có người
khen ngợi Cây Bồ đề cao đẹp quá. Nhưng có người
lại nói nhìn lên Cây Bồ Đề quá cao thật mỏi cổ.
Chỉ một việc nhỏ này, một bên tăng Phước, một
bên tổn Phước. Các huynh đệ lưu ý để ứng dụng
trong đời sống thường ngày, những điều tăng
Phước thì nên làm. Những điều tổn Phước thì nên
tránh. Mỗi ngày tích lũy một ít thì Phước Đức từ
ít thành nhiều, từ nhỏ thành lớn. Ngày tháng qua
mau, các huynh đệ lấy ĂN CHAY làm nền tảng, luôn
lấy việc NIỆM PHẬT TỤNG KINH làm Công Đức Xuất
Thế. Từ những điểm này gắng sức giữ gìn, rồi tu
thêm các việc lành khác. Mong các huynh đệ ai
nấy đều nhất tâm tinh tấn, vững bền ở trong Giáo
Pháp của Phật. Phải khắc ghi hai chữ VỮNG BỀN
này./.
Tỳ Kheo Thích Pháp Đăng kính ghi
Nguồn:
http://huevienlotus.blogspot.com/