Lăo Pháp Sư Tịnh
Không
Việt dịch: Pháp Sư Minh Nhẫn
Ban biên tập:
Thôn Di Đà
NHẬN THỨC PHẬT GIÁO
(Trích
trong pháp ngữ)
Phật Giáo là nền giáo dục
chí thiện viên măn của Phật Đà để giáo hóa chín pháp giới chúng sanh. (Chín
pháp giới, tức là Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, Người, A Tu La,
Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục)
Đức Thích Ca Mâu Ni Phật
đă nói tất cả kinh điển trong suốt 49 năm.
Nội dung tức là nói rơ
chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sanh.
Nhân sanh tức là chính bản
thân ḿnh, vũ trụ tức là hoàn cảnh trong cuộc sống của chúng ta.
Biết giác ngộ gọi là Phật
Bồ Tát.
Không biết giác ngộ gọi là
phàm phu.
Tu hành tức là sửa đổi
cách nh́n, cách nghĩ, cách nói và cách làm sai lầm của chúng ta đối với
vũ trụ nhân sanh.
Cương lĩnh tu hành của
Phật Giáo là Giác Chánh Tịnh.
Giác mà không mê.
Chánh mà không tà.
Tịnh mà không nhiễm.
Y theo Giới Định Huệ tam
học hầu mong đạt đến Giác Chánh Tịnh.
Nền tảng của tu học là Tam
Phước.
Đối người phải y theo Lục
Ḥa.
Xử thế phải tu Lục Độ.
Tuân theo Thập Đại Nguyện
Vương của Phổ Hiền, Tâm quy hướng Tịnh độ.
Th́ sự giáo hóa của Đức
Phật mới có thể cứu cánh viên măn.
NGŨ KHOA TỊNH ĐỘ
(Lược trích trong Nhận
Thức Phật Giáo do Pháp Sư Tịnh Không giảng tại Miami Mỹ Quốc năm 1991)
PHẦN MỤC LỤC
1. Tam Phước.
Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng
thờ sư trưởng, ḷng từ bi không giết hại, tu thập thiện nghiệp.
Thọ tŕ tam quy, giữ vẹn
các giới, chẳng phạm oai nghi.
Phát bồ đề tâm, tin sâu
nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu hành.
2. Lục Ḥa Kính.
Kiến ḥa đồng giải, giới
ḥa đồng tu, thân ḥa đồng trụ, khẩu ḥa vô tranh, ư ḥa đồng duyệt, lợi
ḥa đồng quân.
3. Tam Học.
Giới, Định, Huệ.
4. Lục Độ.
Lục độ là Bố thí, Tŕ giới,
Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ.
5. Thập Đại Nguyện Vương
của Phổ Hiền Bồ Tát.
Lễ kính chư Phật, xưng tán
Như Lai, quảng tu cúng dường, sám hối nghiệp chướng, tùy hỷ công đức,
thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế, thường tùy Phật học, hằng
thuận chúng sanh, phổ giai hồi hướng.
PHẦN GIẢI THÍCH
1. Tam Phước.
Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng
thờ sư trưởng, ḷng từ bi không giết hại, tu thập thiện nghiệp.
Thọ tŕ tam quy, giữ vẹn
các giới, chẳng phạm oai nghi.
Phát bồ đề tâm, tin sâu
nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu hành.
Trong kinh Quán Vô Lượng
thọ Phật gọi là Tịnh Nghiệp Tam Phước, ba thứ tịnh nghiệp này là Tam Thế
Chư Phật Tịnh Nghiệp Chánh Nhân, câu này vô cùng quan trọng, khiến cho
chúng ta hiểu rơ ba đời tất cả chư Phật tu hành chứng quả, đều phải y
theo Tam Phước làm nền tảng, th́ cũng như chúng ta xây cất nhà lầu vậy,
bất luận là xây cao bao nhiêu tầng, đều phải đắp nền móng. Tịnh Nghiệp
Tam Phước là nền móng, là nền tảng cộng đồng của Phật pháp, nhất định là
phải từ trên nền tảng này xây dựng, mới có thể thành tựu tất cả Phật
pháp, điều này vô cùng vô cùng quan trọng.
Phước báo nhân thiên. Hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, ḷng từ bi không giết hại, tu thập
thiện nghiệp.
Phước báo nhị thừa. Thọ
tŕ tam quy, giữ vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi.
Phước báo đại thừa. Phát
bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn người tu
hành.
A. Phước báo nhân thiên:
Hiếu dưỡng cha mẹ,
phụng thờ sư trưởng, ḷng từ bi không giết hại, tu thập thiện nghiệp.
Hiếu dưỡng cha mẹ, chữ
hiếu này thuộc về hội ư, chúng ta phải thể hội ư nghĩa của chữ này, trên
là chữ Lăo, dưới là chữ Tử, tức là bảo với chúng ta rằng, đời trước và
đời sau là một thể, là một chẳng phải hai... Hay nói cách khác, toàn cả
vũ trụ là một chữ Hiếu, tận hư không biến pháp giới là một chữ Hiếu...
Chẳng những chúng ta nuôi dưỡng cái thân của cha mẹ, c̣n phải nuôi dưỡng
cái tâm của cha mẹ, nuôi dưỡng cái chí của cha mẹ. Trong Giới Kinh nói:
tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta. Đem cái tâm hiếu
thuận cha mẹ phát dương quang đại, tận hư không biến pháp giới, tức là
Hiếu Đạo.
Phụng thờ sư trưởng. Phật
pháp là sư đạo, lấy hiếu đạo làm nền tảng, không có hiếu đạo th́ không
có sư đạo... Cho nên phải hiếu thuận cha mẹ cũng phải tôn kính thầy...
Hiếu kính là tánh đức, chỉ có tánh đức mới có thể khai phát tự tánh...
Đây là căn cơ của căn bản, vô cùng quan trọng... Người biết hiếu thuận
cha mẹ th́ biết tôn kính sư trưởng... Phật là vị thầy sớm nhất của chúng
ta, Ngài chỉ dạy chúng ta phải tôn kính sư trưởng... Chúng ta tôn thờ
tượng Phật Bồ Tát, và thờ Tổ Tiên, khi nh́n thấy h́nh tượng của Phật Bồ
Tát, th́ chúng ta nghĩ đến hiếu kính, hiếu thân tôn sư.
Ḷng từ bi không giết hại,
từ bi là tánh đức, là một khoa mục vô cùng quan trọng, ḷng hiếu kính mở
rộng tức là từ bi, có ḷng từ bi th́ không sát sanh, cái dụng ư này rất
sâu... Trong tất cả ác nghiệp, sát nghiệp là nặng nhất. Tại v́ sao? v́
tất cả chúng sanh có mạng sống, không một ai mà không trân quí cái mạng
sống của ḿnh, không có một ai mà không tham sống sợ chết... Cho nên
chúng ta không thể sát sanh, sát sanh là bất kính với Phật, là bất hiếu
với cha mẹ, bởi v́ Phật dạy chúng ta phải giữ giới căn bản, giới thứ
nhất là không sát sanh, nếu chúng ta c̣n sát sanh, th́ làm trái nghịch
lời dạy của Phật, tức là không tôn kính sư trưởng cũng không hiếu thuận
cha mẹ... Sát hại chúng sanh, chẳng những mất đi ḷng từ bi cũng mất đi
ḷng hiếu kính.
Tu thập thiện nghiệp, thập
thiện nghiệp là tiêu chuẩn thiện pháp của thế gian... Phật bảo với chúng
ta rằng, phát tâm tu thập thiện nghiệp, th́ tuyệt đối không đọa tam ác
đạo, thượng phẩm thập thiện có thể sanh lên cơi trời, nếu có tu thêm
thiền định, và tứ vô lượng tâm, tức là Từ Bi Hỷ Xả, th́ có thể sanh lên
cơi trời sắc giới và cơi vô sắc giới. Phật quy nạp thập thiện nghiệp
thành ba đại loại, tức là Thân, Khẩu, Ư.
Thân nghiệp có ba, không
sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, đây là đối với các bạn đồng tu
tại gia mà nói, nếu là người xuất gia th́ không dâm dục, phải đem ḷng
tham ái đoạn cho được sạch sẽ rốt ráo. Trộm cắp tức không cho mà lấy,
lậu thuế cũng là trộm cắp, trộm cắp của nhà nước, tạo cái nghiệp này rất
nặng... Cho nên người chân chánh học Phật, nhất định phải tuân thủ pháp
luật của nhà nước... Không phạm giới sát, không phạm giới dâm, không
phạm giới trộm cắp, th́ gọi là thân nghiệp thanh tịnh.
Khẩu nghiệp có bốn, một là
vọng ngữ, tức là nói láo, nói lời lừa gạt người khác, nói không thành
thật. Hai là lưỡng thiệt, tức là hai lưỡi, khiêu khích thị phi, nói lời
thêm bớt, khiến cho hai người bất ḥa với nhau, tạo cái nghiệp cũng rất
nặng.
Ba là ác khẩu, tức là nói
lời không có lễ phép, nói lời thô lỗ, khiến cho người nghe cảm thấy khó
chịu. Bốn là ỷ ngữ, là hoa ngôn xăo ngữ, nói lời thêu dệt, nói được rất
hay, khiến cho người nghe bị quyến rũ, nhưng dụng ư bất thiện, như hiện
nay trên xă hội, nào là điện ảnh, ca vũ, âm nhạc, thấy chẳng có ǵ là
ác, nghĩ lại những thứ này là loại giáo dục ǵ cho mọi người? Đều là dạy
người sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ, đây thuộc về ỷ ngữ, nếu ĺa
khỏi bốn loại khẩu ác nghiệp, th́ khẩu nghiệp thanh tịnh.
Ư nghiệp có ba, tức là
Tham, Sân, Si. Tham là tham ái, bao gồm keo bẩn, thường nói là sân tham,
dục vọng không có thỏa măn, thí mạng đi t́m cầu, hy vọng đạt được thỏa
măn, đây là ḷng tham, một khi đă đạt được, th́ không chịu buông xả,
không chịu bố thí giúp đỡ cho người khác, th́ gọi là keo bẩn, đối với sự
tu học là một chướng ngại rất lớn. Phật chỉ dạy cho chúng ta phương pháp
bố thí để đối trị ḷng tham. Kế đến là sân, tức là sân hận, tham không
được th́ sanh ḷng sân hận, ḷng sân hận là phiền năo rất lớn, cho nên
Tham Sân Si là tam độc phiền năo. Ḷng tham là nghiệp nhân của ngạ quỷ.
Ḷng sân hận là nghiệp nhân của địa ngục. Ngu si là nghiệp nhân của súc
sanh. Cái ǵ gọi là ngu si? tức là chẳng có trí huệ, pháp thế gian và
Phật pháp có chân có giả, có chánh có tà, có phải có quấy, có thiện có
ác, họ không thể phân biệt, nhận thức không rơ ràng, đem giả cho là chân,
đem tà cho là chánh, đây là ngu si, bất luận họ có ư hay vô ư. Tam độc
phiền năo là chướng ngại minh tâm kiến tánh rất nghiêm trọng, chúng ta
tu học Phật pháp phải tu từ căn bản, căn bản là tâm, phải đoạn trừ Tham
Sân Si, th́ chân tánh mới hiện ra.
B. Phước báo nhị thừa:
Thọ tŕ tam quy, giữ vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi.
Thọ tŕ tam quy, trước
tiên nhập Phật môn th́ phải bái Lăo Sư (lạy Thầy), cầu truyền thọ tam
quy, là một việc rất long trọng, cũng là chánh thức lạy Thích Ca Mâu Ni
Phật làm Thầy, tự nguyện một đời y theo lời dạy bảo của Thầy mà tu học,
thật sự tu hành, được Thầy truyền thọ tổng cương lĩnh và nguyên tắc
phương pháp tu học, gọi là truyền thọ Tam Quy Y. Tam Quy là Quy Y Phật,
Quy Y Pháp, Quy Y Tăng... Nếu từ trên ư nghĩa mà nói, tức là Quy Y Giác,
Quy Y Chánh, Quy Y Tịnh. Phật là Giác, Phật là ư nghĩa Giác Ngộ. Pháp là
Chánh, Pháp là Chánh Tri Chánh Kiến. Tăng là Tịnh, sáu căn thanh tịnh,
một hạt bụi không nhiễm. Cho nên cái y cứ chủ yếu tu hành của chúng ta,
là y theo tự tánh Giác, tự tánh Chánh, tự tánh Tịnh, gọi là tự tánh Tam
Bảo.
Quy Y Phật, cái ǵ gọi là
Quy Y? Quy là hồi đầu, Y là nương tựa, Phật chỉ dạy cho chúng ta, phải
từ mê hoặc điên đảo hồi đầu, nương tựa tự tánh Giác, tự tánh vốn là
Giác, Quy Y Phật không phải Phật bên ngoài, là Quy Y tự tánh Phật,
Đây là tự tánh Phật Bảo.
Trong Tịnh Tông nói, tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ, cho nên Quy Y tự
tánh Phật, tức là Quy Y tự tánh Giác, Giác mà không mê, mới là chân
chánh Quy Y Phật.
Quy Y Pháp, tức là cách
nghĩ cách nh́n cách làm của chúng ta đối với vũ trụ nhân sanh hoàn toàn
cùng với chân tượng sự thật phù hợp, tư tưởng chính xác, kiến giải chính
xác, tại trong kinh Phật gọi là Chánh Tri Chánh Kiến, hoặc là Phật Tri
Phật Kiến, đây là tự tánh Pháp Bảo, không phải bên ngoài đến, Phật dạy
chúng ta từ cách nghĩ cách nh́n cách làm sai lầm hồi đầu trở lại, nương
theo Chánh Tri Chánh Kiến của tự tánh, gọi là Quy Y Pháp.
Quy Y Tăng, Tăng là ư
nghĩa thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh, sáu căn là mắt tai mũi lưỡi thân
ư, tiếp xúc cảnh giới bên ngoài sáu trần, sáu trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Người phàm phu
khi sáu căn tiếp xúc sáu trần th́ bị ô nhiễm, khởi lên ḷng tham, ḷng
tham là ô nhiễm, chúng ta phải từ tất cả ô nhiễm hồi đầu trở lại, nương
theo tâm thanh tịnh của ḿnh, đây là tự tánh Tăng Bảo, tức là Quy Y
Tăng.Tam Quy Y, tổng kết mà nói, Quy Y Phật
tức là Giác mà không mê. Quy Y Pháp tức là Chánh mà không tà. Quy Y Tăng
tức là Tịnh mà không nhiễm.Ngoài ra, c̣n có trụ tŕ Tam Bảo, trụ
tŕ Tam Bảo tức là tượng Phật, kinh điển, người xuất gia. Ba thứ này tuy
không phải là chổ Quy y chân chánh của chúng ta, nhưng tác dụng của nó
tượng trưng cho Tam Bảo trụ thế, có thể đánh thức chúng ta hồi đầu nương
tựa... Trụ tŕ Tam Bảo đối với chúng ta có sự lợi ích công đức rất lớn.
Nên biết, Quy y không phải Quy y một vị pháp sư nào, pháp sư chỉ là đại
biểu cho tăng đoàn, họ đem ư nghĩa của Tam Quy và cương yếu tu học
truyền thọ cho chúng ta... Chúng ta từ trong tâm hồi đầu, nương tựa tự
tánh Giác, Chánh, Tịnh, đây mới là chân chánh Quy Y Tam Bảo.Giữ vẹn các giới, chẳng phạm oai nghi,
các giới tức là có rất nhiều giới điều, quan trọng nhất là ngũ giới, ngũ
giới là căn bản đại giới của nhà Phật. Xuất gia Sa Di và Sa Di Ni phải
giữ 10 giới, Tỳ Kheo phải giữ 250 giới, Tỳ kheo Ni phải giữ 348 giới.
Thật ra giới điều chỉ có phía trước 17 điều, tức là 4 giới trọng và 13
giới tăng tàn, đây thuộc về giới, những giới điều khác th́ thuộc về oai
nghi. Oai nghi là ǵ? Oai nghi là lễ phép, lễ tiết, tức là trong cuộc
sống hằng ngày xử thế, đối người, tiếp vật, phải tuân thủ quy củ...
Trong ngũ giới điều thứ nhất không sát sanh, điều thứ hai không trộm cắp,
điều thứ ba không tà dâm, điều tứ tư không vọng ngữ, điều thứ năm không
uống rượu, bốn điều phía trước là tánh tội, bất luận có thọ giới hay
không thọ giới, hể phạm đều là có tội... Những người có thọ giới đă phạm
th́ gọi là phá giới, chỉ có điều thứ năm không uống rượu, người không
thọ th́ không phạm tội... Chúng ta phải hiểu rơ giới điều, th́ mới có
thể tŕ giới... Mỗi một giới điều cũng có Khai, Giá, Tŕ, Phạm. Ở dưới
trường hợp nào là Khai giới, không phải Phạm giới, ở dưới trường hợp nào
Tŕ giới, không thể Giá giới... Giới luật là hành tŕ của Phật, không có
giới luật th́ không có Phật pháp.
C. Phước báo đại thừa:
Phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyến tấn
người tu hành.
Đại thừa là xây dựng trên
nền tảng của tiểu thừa, phước báo đại thừa có 4 câu.
Một.
Phát bồ đề tâm, cái ǵ gọi là Bồ đề tâm? Bồ đề là tiếng phạn, dịch là
giác ngộ, Bồ đề tâm tức là cái tâm thật sự giác ngộ, cái tâm chân thật
không mê, đă giác ngộ cái ǵ? Giác ngộ đời người quá khổ, thường nói là
tam khổ bát khổ... Sau khi giác ngộ, nhất định phải y theo phương pháp
của Phật dạy tu hành, th́ tự nhiên ĺa khổ được vui, ra khỏi tam giới,
văng sanh tịnh độ, mới thật sự là phát Bồ đề tâm.
Hai.
Tin sâu nhân Quả, cái phước báo thứ ba này là Bồ Tát sở tu, cái nhân quả
này không phải nhân quả thông thường, chúng ta cũng hiểu, thiện có thiện
báo, ác có ác báo, thiện nhân thiện quả, ác nhân ác quả. Phật khuyên Bồ
Tát tin sâu nhân quả, là Phật tại trong Kinh Hoa Nghiêm có nói: Thập Địa
Bồ Tát thủy chung không rời niệm Phật, từ Sơ Địa cho đến Đẳng Giác, 11
ngôi vị thứ. Họ tu cái ǵ? Họ tu pháp môn niệm Phật, th́ ra chổ này nói
nhân quả là chỉ cho, niệm Phật là nhân, thành Phật là quả. Cho nên Phật
ở chổ này khuyên Bồ Tát tin sâu nhân quả, tức là niệm Phật là nhân,
thành Phật là quả.
Ba.
Đọc tụng kinh đại thừa, đây là Bồ Tát thiện, Bồ Tát học Phật, không thể
một ngày không thấy Phật, không thể một ngày không đọc tụng kinh đại
thừa, nên biết, đọc kinh không phải là đọc cho Phật nghe. Kinh là do
Phật nói, Phật đâu có cần chúng ta đọc cho Ngài nghe, chúng ta đọc kinh
là tiếp nhận lời dạy bảo của Phật, để đánh thức chính ḿnh, dạy cho
chúng ta khi khởi tâm động niệm, xử thế, đối người, tiếp vật, không làm
trái nghịch lời của Phật dạy... khi hiểu rơ phương pháp và mục đích của
việc đọc tụng kinh điển, th́ phải y theo cương lĩnh mà tu học, mới có
thể đạt được công đức lợi ích của Phật pháp thù thắng.
Bốn.
Khuyến tấn người tu hành,
tức là phải khuyên mọi người nên học Phật, giúp đỡ mọi người tu hành
tinh tấn, khuyên mọi người niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, đây là hạnh Bồ
Tát.
2. Lục Ḥa Kính.
Kiến ḥa đồng giải, giới
ḥa đồng tu, thân ḥa đồng trụ, khẩu ḥa vô tranh, ư ḥa đồng duyệt, lợi
ḥa đồng quân.
1. Kiến
ḥa đồng giải, tức là xây dựng cùng ư thức chung, ở trong một đoàn thể,
chúng ta đối với phương pháp và lư luận của sự tu học, nhất định phải có
cùng chung một kiến giải, đây là nền tảng cộng tu của đại chúng.
2.
Giới ḥa đồng tu, mọi người khi đă cùng ở chung với nhau tu học, th́
phải lập ra một quy củ, nếu không có quy củ th́ là sẽ loạn, không có
trật tự, dĩ nhiên là có một quy ước cùng ở chung với nhau, nhất định bao
gồm giới căn bản của Phật đă chế định, mọi người nhất định phải tuân thủ.
3.
Thân ḥa đồng trụ, tức là mọi người cùng ở chung một nơi tu hành, xây
dựng đạo tràng là thành tựu cho mỗi một phần tử, mục đích là ở chổ này,
tuyệt đối không phải trốn tránh trách nhiệm xă hội, mà vào trong Phật
môn t́m đường sống. nếu có cái quan niệm này, th́ là hoàn toàn sai lầm,
mọi người sinh hoạt trong đạo tràng đều b́nh đẳng như nhau.
4. Khẩu
ḥa vô tranh, đây là nói mọi người cùng ở chung với nhau không có tranh
luận, thật sự có thể dụng công tâm hướng theo đạo, mọi người ở chung với
nhau, rất dể dàng tạo khẩu nghiệp, cho nên người xưa thường nói: bịnh từ
miệng vào, họa từ miệng ra. Cổ đức dạy cho chúng ta: nói ít một câu,
niệm thêm Phật hiệu.
5. Ư
ḥa đồng duyệt, đây tức thường hay nói Pháp Hỷ Sung Măn,chúng ta học
Phật, bất luận tu học pháp môn nào, sự thành tựu kém cơi nhất, tức là
được hoan hỷ, giả như học Phật, mà không đạt được khoái lạc, nhất định
là có vấn đề, tức là phương pháp đă dùng sai, phải tự ḿnh kiểm thảo t́m
ra khuyết điểm, mọi người cùng nhau tu hành, người đều được pháp hỷ,
người người đều được thành tựu.
6. Lợi
ḥa đồng quân, đây là nói mọi người cùng ở chung một nơi tu hành, cuộc
sống vật chất là b́nh đẳng, tài nguyên của đạo tràng, vào thời xưa, một
phần là do nhà vua hộ tŕ, tức là do nhà nước xây dựng thập phương đạo
tràng, kế đến là những vị đại phú trưởng giả quyên gốp ủng hộ, đạo tràng
xây cất xong, th́ thỉnh những vị cao tăng đại đức đến làm trụ tŕ, tu
hành, giáo hóa chúng sanh, cho nên bất luận là nhà nước cúng dường, hoặc
là đại chúng ở địa phương cúng dường vật chất, phàm là ở trong ngôi đạo
tràng này, đều được hưởng thụ nhất loạt b́nh đẳng.
3. Tam Học.
Giới, Định, Huệ.
Cái ǵ gọi là Giới Định
Huệ Tam Học? những chúng sanh tạo thập ác nghiệp, th́ Phật dùng Giới học
để đối trị, Giới học là thuốc để đối trị ác nghiệp.
Tâm của chúng sanh tán
loạn, không được định, không được thanh tịnh, th́ Phật dùng Định học để
đối trị, Định học là đối trị tâm tán loạn.
Chúng sanh ngu si, không
biết tà chánh, thiện ác, phải quấy, đúng sai, lợi hại, th́ Phật dùng Huệ
học để đối trị.
Nói tóm lại, chúng sanh
tạo ác, tán loạn, ngu si, th́ Phật dùng Giới Định Huệ để đối trị.
4. Lục Độ.
Lục độ là Bố thí, Tŕ
giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ.
1. Bố Thí.
Bố thí có ba loại, tức là
Tài thí, Pháp thí, Vô úy thí. Tài thí th́ được giàu có. Pháp thí th́
được thông minh trí huệ. Vô úy thí th́ được khẻo mạnh sống lâu. Cho nên
muốn được giàu có, thông minh trí huệ, khỏe mạnh sống lâu, nhất định
phải phát tâm tu tài thí, pháp thí và vô úy thí.
2. Tŕ Giới.
Tŕ giới tức là thủ pháp, tất cả vạn sự vạn vật thế gian và xuất thế
gian, bất luận lớn nhỏ, cũng có phép tắc của nó, nhất định phải thuận
theo phép tắc, th́ mới có thể làm được cứu cánh viên măn. Trong Lục Độ,
Tŕ giới là bảo chúng ta lúc b́nh thường phải giữ phép tắc, không chỉ là
thọ tŕ ngũ giới hoặc thập giới, đây là giới căn bản, mà là bảo chúng ta
ở trong gia đ́nh phải có quy củ, cha con, vợ chồng, anh em, đây là luân
thường, phải có thứ tự lớn nhỏ, không được đảo lộn. Tại trong Phật cũng
vậy, phải theo thứ tự tu học, trước tiên phải phát đại tâm, đại tâm tức
là tâm nguyện phải độ tất cả chúng sanh, sau đó đoạn phiền năo, đoạn tập
khí, kế đến học pháp môn, sau cùng viên thành Phật đạo.
3. Nhẫn Nhục.
Nhẫn nhục tức là nhẫn nại, bất luận làm sự việc ǵ, cũng phải có tâm
nhẫn nại, nếu không có tâm nhẫn nại, làm bất cứ việc ǵ cũng không thể
thành tựu, tâm nhẫn nại là một điều kiện vô cùng quan trọng. Đức Thế Tôn
tại trong Kinh Kim Cang nói về Bồ Tát tu lục độ, đặc biệt nhấn mạnh Bố
thí và Nhẫn nhục, hai điều này là then chốt của sự tu hành thành công
hay thất bại.
4. Tinh Tấn.
Tinh là chuyên tinh, chuyên nhất, Tấn là tiến bộ, do đây có thể biết,
Phật pháp không phải bảo thủ, cũng không phải rớt lại phía sau, Phật
pháp là ngày ngày đều cầu tiến bộ... trong vô lượng pháp môn, nhất định
phải nhất môn thâm nhập, mới có thể thành tựu, nếu môn nào cũng muốn
học, th́ tuyệt đối không thể thành tựu, học một môn khi đă thành tựu
rồi, th́ hiểu hết tất cả những môn khác. Cho nên nói một thông tất cả
đều thông, như pháp môn niệm Phật phải chuyên tu... Bất luận là pháp thế
gian hoặc xuất thế gian, nếu muốn trong đời này được thành tựu, nhất
định phải biết tinh tấn, bất luận là niệm Phật, tham thiền, tŕ chú,
hoặc là nghiên cứu giáo lư, cũng phải biết tuân thủ cái nguyên tắc này.
Nếu như tự ḿnh phát tâm tu học, và cũng muốn giúp đỡ cho người khác,
tốt nhất trong một đời chỉ học 1 bộ kinh, chuyên giảng 1 bộ kinh, đây
mới là chuyên tinh. Phật Bồ Tát dạy cho chúng ta tu học phải nhất môn
thâm nhập, th́ gọi là tinh tấn, công đức lợi ích của tinh tấn vô lượng
vô biên.
5. Thiền Định.
Thiền định là bao gồm cả thiền định của thế gian và xuất thế gian, thiền
định thế gian là nói Tứ thiền Bát định, nếu như tu thành, th́ tương lai
sanh lên cơi sắc giới, vô sắc giới. Thiền định xuất thế gian có Đại thừa
và Tiểu thừa, chư Phật Như Lai tu thiền định, chúng ta gọi là Thượng
Thượng Thiền Định xuất thế gian, cái then chốt tu học toàn cả Phật pháp
là ở nơi Định, không phải chỉ có Thiền tông mới tu Thiền định, c̣n những
tông phái khác không tu Thiền định. Như niệm Phật mà nói, mục đích niệm
Phật là phải đạt đến nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn tức là thiền
định, Giáo hạ tu chỉ quán, chỉ quán cũng là Thiền định, trong Mật tông
tu tam mật tương ứng, tương ứng tức là Thiền định, do đây có thể biết,
mỗi một tông phái, pháp môn, tuy dùng danh từ khác nhau, thật ra cũng là
tu Định.
6. Trí Huệ.
Tiếng Phạn gọi là Bát nhă, Trí huệ Bát nhă là ứng dụng trong cuộc sống
hằng ngày... đối với tất cả pháp đă hiểu rơ, thông đạt, mà không chấp
trước tất cả pháp, tận tâm tận lực đi giúp đỡ người khác. V́ sao phải đi
giúp đỡ cho người khác? V́ chư Phật Bồ Tát hiểu được tận hư không biến
pháp giới, tất cả chúng sanh đều cùng với ḿnh đồng một thể, đă là đồng
một thể, cho nên giúp đỡ tất cả chúng sanh không cần nói điều kiện, gọi
là Đồng Thể Đại Bi, Vô Duyên Đại Từ.
Nói tóm lại, làm tất cả
việc đều có phương pháp, đều có thứ tự, th́ gọi là Tŕ Giới. Có tâm nhẫn
nại, có nghị lực, gọi là Nhẫn Nhục. Chuyên tinh không giải đăi nhất môn
thâm nhập, gọi là Tinh Tấn. Trong tâm có thể làm chủ được, không bị
ngoại cảnh lay động, gọi là Thiền Định. Đới với tất cả vạn sự vạn vật
đều thấu triệt, rơ rơ ràng ràng, minh minh bạch bạch, gọi là Trí Huệ Bát
Nhă.
5. Thập Đại Nguyện Vương
của Phổ Hiền Bồ Tát.
Lễ kính chư Phật, xưng
tán Như Lai, quảng tu cúng dường, sám hối nghiệp chướng, tùy hỷ công
đức, thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế, thường tùy Phật học,
hằng thuận chúng sanh, phổ giai hồi hướng.
Thập Đại Nguyện Vương của
Phổ Hiền Bồ Tát là ở trong Kinh Hoa Nghiêm, đây là pháp môn thành Phật,
là pháp môn lư nhất tâm bất loạn, là cảnh giới của pháp thân đại sĩ, đặc
sắc của hạnh Phổ Hiền, tức là tâm lượng quảng đại như hư không pháp giới
vậy. Cho nên thập nguyện của Phổ Hiền, nguyện nguyện đều cứu cánh viên
măn.
Một.
Lễ kính Chư Phật, hai chữ Chư Phật này, Phật tại trong Kinh Hoa Nghiêm
bảo với chúng ta rằng: T́nh và Vô T́nh, đồng viên chủng trí. Đây tức là
Chư Phật, T́nh là chỉ cho tất cả hữu t́nh chúng sanh, tức là tất cả động
vật. Vô T́nh là thực vật và khoáng vật. Cho nên Chư Phật là bao gồm sở
hữu tất cả, đem cái tâm cung kính của chúng ta đối với Phật, chuyển qua
đối với tất cả chúng sanh, đây tức là tâm Phổ Hiền... Tâm cung kính của
Phổ Hiền là chân thật, chúng ta cung kính Chư Phật như thế nào, th́ cung
kính tất cả chúng sanh như thế đó, sự cung kính hoàn toàn như nhau. Tại
v́ sao? v́ tất cả chúng sanh vốn tự thành Phật, nếu đắc tội với một
chúng sanh nào th́ đắc tội với Phật, tức là đối với Phật bất kính, phải
đối với tất cả chúng sanh cung kính, đây là hạnh Phổ Hiền. Hạnh Phổ Hiền
viên măn nhất, Phương pháp tu hành thù thắng nhất.
Hai.
Xưng tán Như Lai, câu thứ nhất Lễ kính Chư Phật, v́ sao câu thứ hai Xưng
tán Như Lai, không gọi là Xưng tán Chư Phật, cái dụng ư này rất sâu. Lễ
kính Chư Phật là từ trên h́nh tượng mà nói, từ trên tướng mà nói nhất
loạt phải cung kính, nh́n thấy người thiện cung kính, nh́n thấy người ác
cũng phải cung kính, không phân biệt thiện ác, không phân biệt tà chánh,
cung kính chánh pháp, cũng cung kính tà pháp. Xưng tán Như Lai, là từ
trên tánh mà nói, cái khác biệt ở chổ này, thiện th́ chúng ta xưng tán
họ, không thiện th́ chúng ta không xưng tán họ, chỉ cung kính mà không
xưng tán, chổ khác biệt ở tại đây.
Ba.
Quảng tu cúng dường, đặc sắc của hạnh Phổ Hiền, là tâm lượng quảng đại
như hư không pháp giới, tại trong Phật pháp đại thừa là tánh đức viên
măn khởi dụng... Cho nên tánh đức của Phổ Hiền Bồ Tát khởi dụng là viên
măn, nguyện nguyện đều là tận hư không biến pháp giới... Ngoài cúng
dường, cúng dường một đức Phật tức là cúng dường tất cả chư Phật, không
những cúng dường tất cả chư Phật đă thành Phật, cũng cúng dường T́nh và
Vô T́nh chúng sanh chưa thành Phật, cho nên một là tất cả, tất cả là
một, đây là phương pháp tu học của Bồ Tát, cũng tức là cảnh giới của Hoa
Nghiêm.
Bốn.
Sám hối nghiệp chướng, tất cả chúng sanh đều có nghiệp chướng, khi khởi
tâm động niệm th́ là tạo nghiệp, nhất định sanh ra chướng ngại. Chướng
cái ǵ? Là chướng bản tánh của chúng ta, trong bản tánh chân tâm của
chúng ta, có vô lượng trí huệ, có vô lượng đức năng, hiện tại trí huệ,
đức năng, thần thông v́ sao không thể khởi tác dụng... V́ có nghiệp
chướng, tu hành khó thành tựu, nếu muốn nghiệp chướng sám trừ, chỉ cần
thật sự phát nguyện sữa lỗi, chí thành niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh
độ, th́ nghiệp chướng sẽ tiêu trừ. Pháp sư Từ Vân có nói: Tất cả kinh
chú khó mà tiêu nghiệp chướng, chỉ có một câu A Di Đà Phật này mới có
thể tiêu nghiệp chướng. Đây là sự thật... Muốn sám hối nghiệp chướng,
chỉ có niệm Phật mới là chân thật sám hối... Chân thật niệm Phật th́
tiêu trừ tất cả tội chướng.
Năm.
Tuỳ hỷ công đức, là đối trị cái phiền năo nặng nhất của người phàm phu,
đó là cái tâm ganh ghét, cái tâm ganh ghét là sẳn có khi sanh ra, có cái
tâm ganh ghét này, đối với sự tu học là một chướng ngại rất lớn. Cho nên
Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta phải tu tùy hỷ công đức, chẳng những không
ganh ghét người ta, mà c̣n tùy hỷ, khi nh́n thấy người ta làm việc
thiện, làm việc tốt, mà có thể sanh ḷng vui mừng, tận tâm tận lực đi
giúp đỡ cho họ được thành tựu, nhà Nho nói: Thành nhân chi mỹ, thành
nhân chi thiện. Nên biết thành tựu cho người khác, tức là thành tựu cho
ḿnh, cái phương pháp tùy hỷ công đức này rất thù thắng.
Sáu.
Thỉnh chuyển pháp luân, chúng ta là đệ tử Phật, chịu sự giáo dục của
Phật, đạt được sự lợi ích chân thật, chúng ta phải dùng phương pháp ǵ để
báo ơn
Phật? Nên biết tâm nguyện của Phật, là
hy vọng tất cả chúng sanh có thể nghe được chánh pháp, y theo Phật pháp
tu học, sớm được viên thành Phật đạo... Cho nên muốn thật sự báo ơn của
Phật, tức là Thỉnh chuyển pháp luân, dùng lời hiện nay mà nói, tức là lễ
thỉnh Pháp sư đại đức đến giảng kinh thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh,
đây là phước đức rất lớn, người đứng ra lễ thỉnh Pháp sư đến giảng kinh
thuyết pháp, cái phước báo này rất lớn.
Bảy.
Thỉnh Phật trụ thế, Thỉnh chuyển pháp luân mục đích chủ yếu là tuyên
truyền Phật giáo, đem giáo pháp của Phật giới thiệu rộng răi cho mọi
người, trong đời này của chúng ta muốn tu học có được thật sự thành tựu.
Thỉnh chuyển pháp luân vẫn chưa đủ... Cho nên nhất định phải Thỉnh Phật
trụ thế, tức là phải lễ thỉnh vị Thầy có đức hạnh đến thường trú lâu dài,
để chỉ dẫn cho chúng ta, chúng ta có thời gian lâu dài tiếp nhận huân tu,
th́ mới có thể thành tựu... Mọi người nếu muốn thành tựu, nhất định phải
Thỉnh Phật trụ thế, nay Phật đă diệt độ, nhưng c̣n đệ tử của Phật, bất
luận là xuất gia hoặc là tại gia cư sĩ, chỉ cần họ có tu, có học, có đức
hạnh, có thể làm cái gương tốt cho chúng ta, có thể hướng dẫn cho chúng
ta tu học, th́ phải lễ thỉnh họ đến địa phương này thường trú, hoằng
pháp lợi sanh, khiến cho địa phương này được họ chỉ dạy trường kỳ tu tập,
như vậy mới có thể thật sự thành tựu. Cho nên muốn được thành tựu, th́
nhất định phải thật sự phát tâm Thỉnh Phật trụ thế.
Tám.
Thường tùy Phật học, Phật c̣n tại thế th́ nương theo Phật tu học, Phật
là tấm gương tốt nhất của chúng ta, là mô phạm của chúng ta, nay Phật
không c̣n tại thế, nhưng kinh điển của Phật vẫn c̣n ở thế gian, chúng ta
nương theo kinh điển mà tu hành, cũng là Thường tùy Phật học, đây là
tiêu chuẩn tu học Phật pháp cao nhất.
Chín.
Hằng thuận chúng sanh, đây là phải đối với pháp giới tất cả hữu t́nh
chúng sanh, nhất định phải Thuận, Thuận là vô cùng khó làm, không dễ ǵ
làm nổi, cho nên người Trung quốc nói Hiếu, tiếp theo là Thuận, tức là
Hiếu Thuận, nếu không Thuận th́ không có Hiếu, học Phật là hết ḷng Đại
Hiếu. Hằng thuận chúng sanh phải quán sát cơ duyên, khuyên nhủ chỉ dạy
cho chúng sanh đoạn ác tu thiện, giúp cho họ phá mê khai ngộ, th́ nhất
định phải biết thời tiết nhân duyên, đến lúc nào th́ ta phải làm, mới
hợp với thời tiết nhân duyên, th́ thu hoạch được hiệu quả viên măn, cho
nên phải có trí huệ, thiện xăo phương tiện, mới có thể Hằng thuận chúng
sanh.
Mười.
Phổ giai hồi hướng, tức là đem tất cả công đức học tập tu hành của chúng
ta, toàn bộ hồi hướng cho pháp giới tất cả chúng sanh, hồi hướng cho họ
chứng bồ đề, hồi hướng cho họ thành Phật đạo, mở rộng tâm lượng của
ḿnh, cùng với tận hư không biến pháp giới thành một thể, đạt đến cảnh
giới này mới là chân chánh cứu cánh đại viên măn.
Nói
tóm lại, chúng ta y cứ kinh điển tu học Tịnh Tông, tức là y theo Tịnh Độ
Ngũ Kinh Nhất Luận, trong kinh luận chỉ dạy phương pháp tu hành, có năm
điều khoa mục: Tam Phước, Lục Ḥa Kính, Tam Học, Lục Độ, Thập Đại Nguyện
Vương của Phổ Hiền Bồ Tát. Phương pháp vô cùng đơn giản, vô cùng dễ
hiểu, một tí cũng không phức tạp. Chúng ta một đời tuân theo cái nguyên
tắc này mà tu học, th́ nhất định được thành tựu, như cổ đức có nói: vạn
tu vạn người đi. Chúng ta đă có y cứ của kinh luận, đă có lư luận phương
pháp tu hành, nhưng trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta dùng tâm thái
ǵ, dùng thái độ ǵ, để đối người, đối sự, đối vật? Chúng ta cứ tuân
theo năm điều khoa mục này, th́ tuyệt đối không bao giờ sai, sau đó nhất
tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ, tất cả mọi người đều được thành tựu
viên măn.