|
......... |
|
Hạ
tải:
Một Giọt Biển Pháp (pdf)
PHÁP HẢI NHẤT TRÍCH
( Một Giọt Biển Pháp )
Trước Tác: Cư Sĩ Hàn Anh
Đệ
tử Phật bên trong phải tu dưỡng ngũ
đức, bên
ngoài tu hạnh lục hòa. Ngũ
đức là
ôn hòa nhân hậu, hiền lành, cung kính thành thật, dè dặt
không hoang phí, nhẫn nhịn nhún nhường. Lục hòa là kiến hòa
cùng giải, giới hòa cùng tu, thân hòa cùng ở chung, khẩu hòa
không tranh cải, ý hòa cùng vui vẻ, lợi hòa cùng
đều
nhau. Cố gắng học tập tam phước tam học lục
độ
thập nguyện, để tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng dương Phật
pháp làm lợi ích cho
chúng sanh, nguyện khuyên cùng nhau cố gắng.
Đức
Phật dạy: Người nào
muốn vãng sanh vào cõi Phật, phải tu tam phước.
Một là hiếu thảo cha mẹ, phụng thờ sư
trưởng, có lòng từ bi không sát sanh, tu thập thiện nghiệp.
Hai là thọ trì tam quy, giữ các giới
đầy đủ,
không phạm oai nghi.
Ba là phát tâm Bồ
đề,
tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, khuyên
bảo người tu hành . Làm
được
ba điều này, thì gọi
là Tịnh Nghiệp Chánh Nhân của ba
đời
chư Phật.

Phật Giáo là
Đức
Phật
đối với chín pháp giới chúng sanh giáo dục chí thiện viên
mãn nhất.
Đức Phật Thích Ca sở thuyết tất cả
kinh điển 49 n ăm,
nội dung là nói rõ
chân tướng của vũ trụ nhân sanh.
Tri giác gọi là Phật Bồ tát, Bất giác
là phàm phu.
Tu hành là chúng ta
đem những sự hiểu sai lầm đối với vũ trụ nhân sanh cách
nhìn, cách nghĩ,
cách nói cách làm mà cần phải tu chính lại.
Cương lĩnh tu hành của Phật giáo là
Giác Chánh Tịnh, Giác mà không mê, Chánh mà không tà,
Tịnh mà không nhiểm, y theo Giới
Định Huệ tam học hầu mong đạt
đến mục tiêu này.
Nền tảng tu học là tam phước,
đối với người phải y theo lục hòa,
đối với việc làm
phải tu lục
độ,
tuân theo hạnh nguyện Phổ Hiền, tâm quy hướng Tịnh Độ,
thì sự giáo hóa
của Phật mới có thể hoàn toàn viên mãn.
Pháp sư Tịnh Không
********

Một Giọt Biển Pháp
Thuật Giả: Bồ Tát giới
đệ tử
Hàn Anh
Thế gian và xuất thế gian,
vốn không sanh diệt, người phàm phu lấy cái
tâm sanh diệt mà nhìn tất cả pháp thế gian
và xuất thế gian, cho nên mới có sanh diệt.
Thiền tông nói: Minh tâm
kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Không
đạt đến minh tâm, thì
làm sao kiến tánh không biết phải
đợi đến bao giờ.
Tây phương cực lạc thế
giới, nước có tám công
đức,
thanh tịnh lắng trong không nhiểm ô, chúng
ta học Phật phải có tâm thanh tịnh như thế,
xa rời trần lao không nhiểm ô.
Thế giớ cực lạc gió thổi
rừng cây, chim ca, nước chảy, tất cả những
âm thanh
đó đều
diển thuyết
Phật pháp, chỉ cần dụng tâm thanh tịnh mới
hiểu thấu
được, cũng như Phật dùng
Nhất Âm Diệu
Đế mà
thuyết pháp, phổ
độ vô
lượng chúng sanh.
Tu học trước tiên phải có
giác ngộ, kế
đến phân biệt chánh tà,
biết rõ chánh tà rồi, trong tâm tự nhiên
thanh tịnh.
Tâm bấp bênh thì trôi nỗi,
tâm thanh tịnh thì định, tâm
định thì
sanh
đạo.
Kinh Di Giáo nói: Thế
gian nhất thiết vô thường, có gặp nhau tất
nhiên có xa nhau, không nên vì
đó mà
sanh lòng buồn khổ, cái tướng thế gian là
như thế, hãy nên nhất tâm niệm Phật cầu vãng
sanh tây phương, thì mới có thể thường tựu
hội với nhau.
Khu vực giáo hóa của Phật
A Di
Đà là
mười phương vô lượng thế giới, không phải
chỉ một
đại thiên
thế giới, niệm Phật pháp môn vượt hơn tất cả
pháp môn, những pháp môn kháckhông thể so
sánh
được.
Cõi thế giới cực lạc gió
thổi mưa hoa
đều là
công
đức,
trên trời rải xuống các loại diệu hoa, cõi
ta bà của chúng ta
đây
gió thổi
đều là
các
đất bụi bậm,
trời mưa xuống
đều là
mưa chua, rơi trúng
đầu tuì
sẽ rụng tóc thành trọc.
Cõi thế giới cực lạc tứ
độ đều ngang hàng
bìng
đẳng, mỗi độ đều có chín phẩm,
vật hoa
đều phóng ra vô lượng ánh sáng,
trong ánh sáng có vô lượng hoá Phật, khắp vì
mười phương diển thuyết pháp môn vi diệu này,
khuyên bảo chỉ dẫn cho tất cả chúng sanh
phát nguyện cầu vãng sanh, không thối chuyển
thành Phật.
Khi
đã
vãng sanh tây phương, một bụi trần cũng
không còn ô nhiểm, không cần phải nấu cơm
ăn cơm, luôn cả tắm rửa cũng
không cần,
dựa vào
điểm này,
chúng ta không
đi không được,
vì vậy nói là Thanh Tịnh Trang Nghiêm.
Cõi thế giới tây phương
không dùng thức thứ sáu, vì vậy không có
phân biệt tưởng.
Những ngày gần
đây, khi dùng
nước
để súc miệng lại có mùi
vị tanh hôi, làm sao có thể so sánh với nước
của tây phương có tám công
đức trí huệ.
Người thế gian
đều biết rằng, hoa sen sanh trong bùn
nhơ mà không nhiểm ô, nhưng nơi
đây trồng hoa sen trong bùn
nhơ, phải trải qua nhiều lần phấn
đấu,
phá vỡ tất cả chướng ngại mới có thể lộ lên
trên mặt nước, kế
đến trong nhụy hoa mới có quả sen, cho nên
trong Phật pháp nói: Hoa Quả
Đồng Thời, là
đạo lý này,
hoàn toàn thành sự thật, ở thế gian cũng lấy
hoa sen
để hình
dung cho một số người
đó, sanh trong bùn
nhơ mà không nhiểm ô, nhưng hoa sen của thế
gian vẫn còn thiếu mùi thơm bát ngát, còn
hoa sen cõi tây phương cực lạc thế giới là
trồng trong cát vàng, lại có thể bay trụ
trên hư không, tùy thời mà tiếp dẫn những
người niệm Phật cầu vãng sanh, từ trong cái
gốc nó vốn là thanh tịnh, vì vậy có
đầy đủ hương vị cực kỳ đặc biệt vi tế mầu
nhiệm, dùng
ngôn ngữ không thể nói hết
được, dùng
bút viết cũng không thễ diễn tả ra hết
được.
Cõi tây phương có ba bực
chín phẩm, trong kinh nói: Tam C ăn
Phổ Bị, Lợi
Độn Toàn Thâu.
Tam Căn là lợi căn, trung căn, độn căn,
người có lợi căn đối với đạo lý thì dễ dàng
tiếp nhận và lý giải, liền có thể nhất địng
tin sâu ba điều kiện vãng sanh tây phương,
tức được vãng sanh tây phương vào bực cao,
người trung căn tuy rằng có lòng tin nhưng
dễ dàng bị rung
động, được sanh vào
thượng phẩm thì rất ít, người
độn căn chỉ cần có thể chấp trì
danh hiệu, một câu A Di
Đà
Phật quyết
định vãng
sanh, vả lại với cái số không ít. Chổ thâm
sâu của Tông Tịnh
Độ tức niệm Phật pháp môn, thật nói không
thể hết, là
con
đường tắt rất chính xác, một pháp môn vi
diệu thành
Phật, chỉ cần có thể chấp trì một câu Phật
hiệu, người thông minh và người ngu dốt cũng
có thể chứng
đắc vĩnh viễn không thối chuyển. Ngũ căn thêm
vào Ngũ lực mới là nền tảng học Phật, học
Phật nếu không có căn,
cũng như bèo
trên nước, học vấn của thế gian dầu cho giỏi
đi nữa, là
Phật học
đó, chẳng qua chỉ là
thế trí biện thông, cũng như cây không có rễ,
tuy rằng cành lá tốt tươi rất nhiều, rất mau
thì sẽ khô chết, tu học Phật pháp trước tiên
phải vun
đắp gốc rễ,
sau
đó phải cố gắng từng bước bước đi, đến bờ bên
kia không phải một bước là
đến nơi.
Tây phương cực lạc thế
giới hoa sen mà chỉ có bốn màu sắc,
đó thì
là chết cứng biết bao! Khó coi biết bao!
Chúng ta thử nghĩ xem có bao nhiêu thứ màu
sắc?
Đức
Phật nói: Có vô lượng màu sắc.
Người học Phật niệm Phật,
tâm
địa
phải thanh tịnh, thì mới có thể thọ dụng,
làm bất cứ việc gì trong thế gian, chẳng nên
giữ cái ý niệm của thế gian, phải thấu rõ
vạn pháp, tùy duyên mà không phan duyên.
Có thể tùy duyên cho tất
cả, mà chân như không
động, ở thế gian không
việc gì không làm
được, nơi xuất thế gian mà
nói, thì mới thật sự có thể thành tựu lục
độ.
Thanh tịnh và nhiễm ô,
đều trong một niệm của tâm hiện tiền.
Học Phật trước tiên cần
phải giữ sạch sẽ, ở cõi Ta Bà này mà không
giữ gìn sạch sẽ, nếu sau này thành Phật nhất
định sẽ thành
một vị Phật dơ bẩn, nơi tây phương không có
phần.
Tam tụ tịnh giới, là bao
gồm giới luật oai nghi, thế gian pháp luật,
đạo đức và
phong tục tập quán. Không những người xuất
gia phải giữ, người tại gia tu hành cũng
phải hết lòng giữ, các việc ác không làm,
nên làm những
điều lành.
Tinh thần của Phật pháp
đại thừa, là
kiến lập trên Bồ
Đề Tâm,
muốn giác tâm trước tiên phải tự giác, sau
đó mới giác tha, vô cùng
quan trọng
đấy.
Tâm Phật và tâm chúng
sanh, thật ra chẳng phải hai tâm, chỉ là
giữa giác và mê mà thôi, rất tiếc người ngày
nay nghe lời gạt không nghe lời khuyên, tin
giả không tin thật, nói thật là lời nói
nghịch tai, tuy rằng lời nói ấy có lợi ích
cho việc làm, nhưng lại thích nghe những lời
thiêu dệt giả dối dụ dỗ, họ cảm thấy dễ chịu
hơn.
Tự tánh của chúng sanh
vốn thanh tịnh, bởi
đều bị phiền não
trần lao làm nhiểm ô, không
được tự tại.
Vạn pháp do tâm sanh, tâm
khởi niệm thì có sở hiện, trong tâm thường
niệm chư Phật, sau này nhất
định sẽ thành
Phật, người tu tịnh
độ tâm thường niệm Phật cầu nguyện vãng
sanh, tương lai nhất
định sẽ được vãng
sanh.
Chúng ta
đối với thời gian và
không gian có từng bị chướng ngại không? Bởi
vì chúng ta mê hoặc mất
đi cái tự tánh
tận hư không biến pháp giới.
Có vị nhân huynh nói:
Phật dạy không nên sát nhân, như vậy thì gà
vịt bò dê v.v… chạy loạn
đầy trên
đường xá, còn
cá dưới biển cũng tràn
đầy lên
bờ. THAM
Tất cả kinh
điển đều là
quyến thuộc của Kinh Hoa Nghiêm, cho nên gọi
Hoa Nghiêm là căn
bản pháp luân. Ở đoạn cuối Kinh Hoa Nghiêm
lấy thập
đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát làm
chỉ dẫn quy hướng về cực lạc, thế giới cực
lạc là nơi quy túc của Hoa Nghiêm.
Người viên mãn thuyết
pháp, không pháp nào không viên mãn. Người
tục thuyết pháp, không pháp nào không tục.
Thanh tịnh bình
đẳng
là tâm Phật, nếu tâm của chúng ta
được thanh tịnh bình
đẳng,
thì cùng với tâm Phật cảm ứng.
Có tánh
đức mà
chẳng tu
đức, thì
không thể tự hiển lộ.
Khó! Khó! Khó! Khó bỏ khó
lìa là phân biệt chấp trước.
Có n ăng
có sở có chổ không biết, không năng không sở
không chổ nào
không biết.
Giác tri của tánh thể,
chiếu khắp các pháp, giác tri linh linh
chiếu sáng, là
đại dụng của tự tánh.
Một câu A Di
Đà
Phật,
đều có thể tiêu
trừ tất cả nghiệp chướng tai nạn.
Học Phật cần nhất phải
thâm nhập kinh
điển, mở cửa đại trí huệ, khôi phục lại vốn
có tự tánh trí huệ,
phải có
đại trí huệ như biển lớn, thì
đối với đạo lý của thế gian xuất thế gian
đều thông đạt không có chướng ngại, làm
tất cả việc thế gian, chẳng nên có ý niệm
không chân chánh thế gian, như vậy mới là
chân chánh trí huệ.
Trong thế gian bất luận
là gia
đình,
đoàn
thể, cho
đến tăng đoàn,
nếu không lấy tâm thanh tịnh bình
đẳng lục hòa
mà
đối xử với nhau, thì
làm sao xử lý vô số việc nhỏ.
Ngày xưa ở Ấn
Độ 96 loại ngoại đạo, ngày
nay ngoại
đạo ở Trung Quốc tự do cũng
tương
đối khả quan, chỉ cần dụng tâm thanh tịnh,
tâm bình
đẳng, tâm giác làm
đạo, vẫn không mất là
thiện nghiệp.
Tâm thanh tịnh là chân
tâm, tâm thanh tịnh n ăng
sanh
vạn pháp, tâm thanh tịnh tức là tịnh
độ, chỉ có tâm thanh tịnh thì
mới có thể chứng
đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.
Đức năng và trí huệ của
chúng sanh cùng với chư Phật không hai không
khác, chỉ vì chúng sanh không chịu giác ngộ,
mới bị vô minh che lấp.
Thập chủng thiện pháp và
bất thiện pháp,
đều từ trong một niệm của chúng sanh, nếu kiên
giữ ngũ giới và hành thập thiện nghiệp
được hoàn
toàn viên mãn, là
điều kiện tiên
quyết mới
được vãng
sanh tây phương.
Xả bỏ, xả bỏ càng nhiều
càng
được sạch sẽ, thì
tâm càng thanh tịnh, tu học phải có tâm xả
bỏ rất quan trọng.
Trong mỗi một bộ kinh, có
lúc Phật gọi ngài A Nan, lúc thì gọi ngài Xá
Lợi Phất, ngài A Nan là
đại biểu
Đa Văn, ngài
Xá Lợi Phất là đại biểu Trí Huệ, tất cả
những người làm đại biểu đó là tự tánh vậy.
Có vị
đồng tu nói: Tự mình
niệm Phật công phu chưa
đủ, tương lai đột nhiên
mà vãng sanh có thành vấn
đề không? Không
có quan hệ, hãy gọi con cái
đến hộ niệm cầu siêu,
cầu siêu cao nhất chỉ có thể sanh
đến cõi
trời ba mươi ba.
Tam quy y,
đơn giản mà
nói, tức là trở về với tự tánh, tâm tánh của
một người phải chân chánh, mới có thể khế
hội
được chánh đạo, và
phát tâm
đạo lớn. Người thế gian cũng như vậy, muốn làm
việc lớn, trước tiên nhất
định phải có chân chánh đại chí nguyện, thì
mới thành tựu sự nghiệp lớn. Tâm của người
học Phật phải cùng tâm Phật tương ứng, cần
phải rộng lượng, có thể dung nạp, thì mới
thống lãnh
đại chúng được, đó là
ý nghĩa của quy y, vì vậy nhất
định phải thể hội hiểu rõ
đại đạo.
Học Phật không nên keo
lận pháp, nếu keo lận pháp, tương lai
được quả báo là
ngu si.
Đọc sách một ngàn lần,
nghĩa lý tự nhiên hiểu rõ, tụng kinh nghe
kinh cũng không ngoài lệ.
Trong tâm có ma chướng,
chính mình phải tiêu trừ, phải thường nghe
pháp âm thì mới có thể phá
được phiền não,
sự
đau khổ tự nhiên
hết.
Không có chân tâm, thì
làm sao hiểu thấu diệu lý.
Ba thừa Phật pháp, n ăm
thừa Phật pháp là
Phật dùng phương tiện mà nói, chỉ có một
thừa Phật pháp, không hai không khác thì mới
thành Phật. Một câu A Di
Đà
Phật niệm
đến cùng,
là phương tiện bực nhất.
Kinh Bát
Đại Nhân Giác nói: Sanh Tử Bì
Lao, tạm dịch sống chết mệt nhọc. Chúng ta
là phàm phu ở thế gian này cứ
đuổi theo không ngừng tìm
cầu
đanh lợi dục vọng, làm
tất cả
đều là
cái nhân lục
đạo, ở trong lục đạo
luân hồi vĩnh
viễn kông ngừng nghỉ, thật là mỏi mệt, hãy
nên phát tâm niệm Phật.
Nếu muốn vãng sanh vào
thế giới tây phương cực lạc, không phải là
việc khó, chỉ cần mang theo
đầy đủ ba điều kiện Tín Nguyện Hạnh, quyết
định được vãng
sanh.
Vô Lượng Thọ Phật, có vô
lượng ánh sáng chiếu khắp mười phương, ánh
sáng của mặt trời mặt tr ăng
và
minh châu
đều ẩn mất.
Chúng sanh chấp có, Phật
nói không. Chúng sanh chấp không, Phật nói
có. Chúng sanh chấp chẳng có, chẳng không.
Phật nói chẳng có không phải không có, chẳng
không chẳng phải không không.
Thầy là chỉ dạy cho những
người hậu học biết; chẳng nên
đi theo con đường oan uổng mà
Thầy
đã
đi qua, không nghe lời Thầy dạy là
người ngu si.
Nhân sanh là một vũ
đài
lớn, màn bạc giống như chân tâm không biến
đổi, tất cả hình
ảnh
đều là
duyên bất biến.
Ngày xưa
Đức Phật thuyết pháp, nhất định phải có
người kính thỉnh, vô cùng
long trọng và trang nghiêm, chỉ có Kinh Di
Đà, là
Phật vui mừng từ trong tâm, mà vì chúng sanh
đời mạc pháp khai thị pháp môn niệm Phật, có
thể một đời thành
tựu, gọi là Bất Vấn Tự Thuyết.
Đức Phật thuyết pháp đều
ứng theo cơ duyên của chúng sanh, khế hợp
căn cơ của chúng sanh, phá trừ tâm cảnh si
mê của chúng sanh, thí như đánh chuông, đánh
mạnh thì nghe tiếng lớn, đánh nhẹ thì nghe
tiếng nhỏ, có hưởng thì có ứng, vốn tự vô
tâm.
Ma là do tự tâm khởi lên,
quỉ thế gian so với quỉ âm phủ lại càng
đáng sợ.
Tu pháp môn tịnh
độ phải nhất tâm niệm Phật,
chúng ta cần nên biết rõ ràng, tâm niệm Phật
là năng
niệm, danh hiệu Phật là
sở niệm,
đều ở chổ nhất tâm, nhưng chúng ta không
được trụ nơi tâm năng niệm, bởi vì
tâm năng
niệm, bản thế vốn là
vắng lặng, Phật hiệu sở niệm
đều không thể trụ được, nếu như nói không có
tâm năng niệm và
Phật hiệu sở niệm, mà tâm năng
niệm lại linh hoạt rõ
ràng, Phật hiệu sở niệm lại sáng suốt biết
rõ,
đây là
cảnh giới một niệmtương ứng một niệm Phật.
Vô niệm mà niệm, niệm mà
vô niệm, cảnh giới này không thể dùng lời
nói cho
được rõ
ràng, cũng không thể suy nghĩ mà muốn hiểu
rõ, tức là bản thế của nhất tâm thanh tịnh,
không còn xen lộn,
đây mới là
lý nhất tâm.
Đức Phật dạy chúng ta tu
hạnh lục
độ,
thật không biết phải bắt
đầu tu từ độ nào?
Tôi nghĩ rằng nên bắt
đầu tu từ độ Nhẫn Nhục.
Đọc qua một quyển tạp chí
có
đăng một bài,
đề mục là
Tư Tưởng Bát Nhã, trong kinh Phật nói: Bát
nhã vô tri, vô sở bất tri. (Bát nhã
không biết, không chổ nào không biết) Bát
Nhã lại còn có tư có tưởng hay sao?
Giáo lý của Phật nói, từ
bi là
động lực của tinh tấn, người thế gian ngu
si, mà
nghĩ rằng hung bạo là
động lực tiến bước.
Vạn pháp do tâm tạo,
chúng sanh si mê, tâm hướng theo ngoài cầu
pháp, càng cầu càng bị mê hoặc.
Vị thầy tốt muốn cho anh
được thành
tựu mới thường quở trách anh, nếu không muốn
cho anh thành tựu, thì nhất
định đối
xử với anh có lễ
độ khách sáo.
Mọi người không lo làm
việc,
đều được thanh nhàn,
có phải là trở thành một vị Phật thanh nhàn
chăng?
công việc trong xã hội thì ai
đến đây làm?
chỉ cần tận tâm giữ bổn phận chức nhiệm của
mình, tức thì thiên hạ thái bình.
Kẻ trước người sau khen
ngợi người khác, tự mình phải nhún nhường,
âm thầm làm việc, không chán không ngại, thì
tự nhiên thật sự có tiếng tốt.
Nếu buông bỏ chấp trước,
thì tất cả
được tự tại, trong bốn tướng nếu ngã
tướng không buông bỏ được, vì vậy tất cả
tướng vẫn còn.
Người thế tục nói: Nhâm
Quý Tự Tri. Lại nói: Bất Hoạn Nhân Chi Kỷ
Tri, Hoạn Bất Tri Nhân Dã. Lời nói của cổ
đức không sai, con người tự biết thì
mới tiến bộ, mới có thể phản văn
tự tánh. (xoay nghe tự tánh).
Người cùng người
đối xử với nhau, cái kỵ nhất là
không nên
đè bẹp
người khác, mà nâng cao mình lên, nếu muốn
người khác
đối với anh vui cười, thì
nhất
định anh phải tự mình
đối với người ta vui cười trước.
Người có cơ trí thông
minh, phải nên như người ngu dốt (Tục ngữ
nói:
Đại Trí Nhược Ngu).
Nếu có công lao và công
đức cho khắp thiên
hạ, phải nên giữ cách khiêm nhường. Nếu có
sức mạnh khả năng
cứu giúp thiên
hạ, cũng nên tỏ ra tâm nhúc nhát. Người có
đạo cao đức trọng, phải nên
nhúng mhường cung kính.
Lời nói có sự kiềm chế lễ
độ, nhất định sự oán trách sẽ
ít
đi (không đắc tội với người).
Mọi
động tác đều biết kiềm chế lễ độ, thì
sự ân hận của việc không nên làm nhất
định là
ít, ái mộ kiềm chế lễ
độ, đối với riêng
mình cầu lợi thì nhất
định ít
( Phật nói
tham dục ít ). Sự vui chơi có chừng mực, thì
tai họa việc xấu cũng ít.
Ăn uống có điều độ, thì
bệnh hoạn cũng ít (bệnh từ miệng vào).
Phát giới vốn là nhất
chân, bởi vì chấp trước phân biệt mới có
thập pháp giới, nếu không chấp trước phân
biệt, tất cả
đều là
chân, thì làm sao có mười pháp giới .
Vạn pháp
đều như thế, pháp pháp đều là
vậy, vạn pháp vốn không sanh diệt, không
đến cũng không đi, vắng lặng thường trụ, tâm
của chúng sanh không thanh tịnh nên
mới có sanh, diệt,
đến, đi, trừ ra đạt đến nhất tâm bất loạn thì
mới có thể thấy
được thật
tướng của các pháp, tức là nhất chân pháp
giới biến thành thập pháp giới.
Lý tức là Phật; tất cả
chúng sanh
đều có Phật tánh, bất luận là
động hay tịnh, trên
cái lý mà nói thì tất cả
đều đầy đủ Phật tánh, còn
trên sự tướng mà nói, hành
động và
ý niệm
đều không như vậy, trong cái mờ tối đần độn
theo song đuổi
dòng, bị ngũ dục lục trần lôi kéo
đi, xa xôi mù
mịt không biết trở về với tự tánh.
Danh tự tức là Phật, biết
được kinh quyển, là
mới bắt
đầu được nghe danh biết
tự của nghĩa khúc pháp vô sanh, lại bắt
đầu nghe được
bài ca bất
tử, nay mới biết rõ tánh hải tức là
đương thể, tự mình
mới biết hối hận ngày trước
đã
đem thời gian bỏ qua.
Nếu muốn làm một người có
phẩm chất hiền lương ôn hòa, thì nhất
định phải rèn
luyện từ trong lò lữa. Muốn thành công một
sự nghiệp khí thế rộng lớn, thì nhất
định phải từng trải qua trên
băng
mỏng
(lưu tâm cẩn thận).
Cái cao quý thành
đạt của đại trượng phu, là
ở chổ
đạo đức và
chí khí. Cái khoe khoang của người thô bỉ
hèn kém, là chỉ cầu cho nhiều cái hư vinh
để trang sức bên
ngoài.
Phật và Bồ Tát
đi đầu thai, đều theo nguyện lực, không bị
nghiệp lực lôi kéo đầu thai, cho nên
nói: Thừa Nguyện Tái Lai.
Bát nhã không biết, không
chổ nào không biết, không biết là tâm thanh
tịnh, không chổ nào không biết là
đức dụng của tâm thanh tịnh.
Người ta
đứng vãng
sanh, còn ta thì ngồi vãng sanh; người ta
ngồi vãng sanh, còn ta thì nằm vãng sanh,
chỉ cần có thể vãng sanh, vãng sanh cách nào
cũng
được, như thế không có uổng công niệm Phật.
Quán hành tức là Phật, y
theo lời Phật dạy tu hành, tức
được ngôi vị ngũ phẩm. Trong tâm thường nhớ
quán chiếu nghĩa lý của chân thường, trong
tâm thời thời khắc khắc tiêu
diệt trần lao huyễn hóa, quán chiếu khắp nơi
tự tánh của các pháp, thì mới hiểu thấu
đạo lý của không giả cũng không chân.
Giống nhau tức là Phật,
liễu giải cũng giống nhau, là ngôi vị thập
tín, tuy rằng
đã
thoát ly tứ trụ, lục trần vẫn chưa hoàn toàn
hết hẳn, cũng giống như con mắt hãy còn mờ
nhậm nhìn lên không trung, tựa như thấy có
sao hoa .
Phân chứng tức là Phật,
phá
được một phần thì
chứng
được một phần, từ sơ trụ đến đẳng giác,
hốt
nhiên tự tâm khai ngộ, trong tâm vắng lặng
thanh tịnh, tất cả
đều thông đạt, nhưng chưa triệt ngộ đến cảnh
giới cùng
tột, giống như mặt trăng
hãy
còn lờ mờ, không phải trăng
tròn
sáng tỏ.
Cứu cánh tức là Phật,
viên mãn nhất thiết chủng trí,
đoạn hết tất cả vô minh, là
ngôi vị Phật Diệu Giác. Ngày trước nhận chân
là vọng, ngày nay vọng
đều thành
chân, hồi phục tự tánh vốn có, trở về với tự
tánh, không có mợt pháp nào là mới cả, chân
vọng vốn là một thể,
đồng như trăng tròn.
Niệm Phật, niệm là kiềm
chế cái tâm vào một chổ, nếu không niệm thì
tạp niệm làm rối loạn, không phải là chân
niệm Phật, phải nên niệm và không niệm
đều có thể giữ được tâm thanh tịnh, đi đứng
nằm ngồi, đối người xử thế đều có thể nhất
tâm bất loạn, mới có thể làm
bất cứ việc gì, tất cả nghiệp chướng
đều tiêu
trừ.
Nhất tâm niệm, niệm cái
gì? Niệm A Di
Đà
Phật.
Niệm Phật cái
đầu tiên
quan trọng là trừ tạp niệm, trừ vọng tưởng,
phân biệt, mới
được bước vào
nhất tâm niệm.
Không tu hạnh Phổ Hiền,
không thể viên thành Phật
đạo;
Bồ Tát tu hạnh Phổ Hiền mới chứng
được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bất luận lúc nào nơi nào
có gặp bất luận xảy ra chuyện gì, hoặc bệnh
khổ gì,
điều
quan trọng nhất là không quên Phật hiệu.
(thường nhớ niệm Phật)
Trong niệm Phật viên
thông chương của
Đại Thế Chi Bồ Tát, chỉ dạy cho chúng ta
rằng: Đều Nhiếp Lục Căn, Tịnh Niệm Kế Tiếp.
Thông
đạt tất cả
sự tướng lý
luận của nhân sanh thế gian và xuất thế
gian, tức là Phật.
Lấy chân thiện mỹ huệ
trang nghiêm làm y chánh của chúng ta, ngay
trong hoàn cảnh hiện tượng trước mắt phải
thể hội cảnh giới chân thật.
Chân vọng, không hửu,
nhiểm tịnh, n ăng
sở, không một thứ nào
không phải là nhất hợp tướng.
Pháp pháp
đều là
tự tánh, bởi chúng sanh chấp trước, chỉ thấy
tướng không thấy tánh. Thí dụ nói: Vàng là
bản thể, những
đồ trang sức là
tướng, vì vậy thường nói lấy vàng làm
đồ trang trang sức, những đồ trang sức đều là
vàng, ngoài vàng ra thì không có
đồ trang sức, ngoài
đồ trang sức ra thì
không có vàng.
Vào cảnh giới bất khả tư
nghị, tức là nhất chân pháp giới; trừ bỏ cái
giới hạn tức là nhất chân pháp giới.
Pháp môn niệm Phật, chẳng
sợ
đi không thành,
chỉ sợ không
đầy đủ tín nguyện trì
danh. Kinh nói: Vạn người tu vạn người
đi . Không tu đương nhiên
không
được đi.
Tám mươi bốn ngàn pháp
môn, trở về nguồn không hai
đường, thử nhìn
xem giáo nội ngoại,
đến cuối cùng
có vị nào mà không hồi hướng quy về tịnh
độ.
Người học Phật,
đối với thánh giáo phải liễu giải, vả lại
cần phải ghi nhớ, cảnh giới hiện tiền, nhất
định phải y theo phương pháp nghĩa lý của
Phật dạy,
để mà
đối trị, nếu không ghi nhớ thì
làm sao biết
đối trị.
Thanh tịnh là T ăng
bảo, bình
đẳng là
Pháp bảo, giác là Phật bảo, tức là Vô Thượng
Chánh
Đẳng Chánh Giác. Pháp môn niệm Phật tức là
pháp môn xưng tánh.
Cổ
đức đều lấy Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm
là viên mãn nhất, nhưng Kinh A Di
Đà,
Kinh Vô Lượng Thọ còn trên Hoa Nghiêm, là
tối cao
đệ nhất, bởi vì
ở phẩm sau cùng Kinh Hoa Nghiêm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện, Phổ Hiền Bồ Tát lấy thập
đại nguyện để làm
chỉ dẫn quy hướng Cực Lạc, thì Kinh Hoa
Nghiêm công
đức mới được viên
mãn.
Kinh nói: Nhất
Đa Bất Dị, một câu A Di Đà,
viên dung ba tạng mười hai phần giáo, tám
vạn bốn ngàn pháp môn,
đều ở trong đó.
Trong Kinh Vô Lượng Thọ
chổ nói Nhất Thời, là lúc Tam Tư Lương tương
ứng . (Tín, Nguyện, Hạnh)
Kinh Hoa Nghiêm nói kỹ là
Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Di
Đà nói
sơ lược là Kinh Vô Lượng Thọ, hai bộ Kinh
này liễu nghĩa nhất thừa. Kinh Vô Lượng Thọ
cũng là trung bản Hoa Nghiêm.
Đức Phật nơi vườn Lộc
Uyễn thuyết pháp độ năm vị tỳ kheo, Ngài
Kiều Trần Như là khai ngộ đệ nhất, Kinh Vô
Lượng Thọ lấy Tôn Giả Kiều Trần Như là hành
thượng thủ, làm
đại biểu cho pháp môn niệm Phật, là
pháp môn
được độ đệ nhất.
Ngài Xá Lợi Phất là Trí
Huệ
Đệ Nhất, Ngài
Mục Kiền Liên là Thần Thông
Đệ Nhất, trong Kinh Vô Lượng Thọ đều ở dưới
Ngài
Kiều Trần Như, cái ý này là nói Xá Lợi Phất
và Mục Kiều Liên, làm
đại biểu cho kinh này
là trí huệ thần thông
đệ nhất trong đệ nhất.
Kinh Vô Lượng Thọ lấy
Ngài Phổ Hiền làm
đại biểu Mật Tông, trong Phật môn tôn sùng
Ngài Long Thọ làm Tổ của tám tông, các Ngài
đều là
đại Bồ Tát, cũng đều cầu vãng
sanh tây phương tịnh
độ.
Trong mật tông Ngài Kim
Cang Tát
Đỏa tức là
hóa thân của Phổ Hiền, Chuẩn
Đề Bồ Tát là
hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngài Văn
Thù
làm
đại
biểu thiền tông, Di Lặc Bồ Tát làm
đại biểu ngàn
vị Phật trong hiền kiếp.
Trong mười sáu vị chánh
sĩ chỉ có Ngài Hiền Hộ là một bổn thổ Bồ
Tát, ngoài ra
đều là
Bồ Tát ở cõi khác, trong hội Kinh Vô Lượng
Thọ, tất cả các Ngài
đều cầu vãng
sanh tây phương cực lạc tịnh
độ, là
nói rõ tất cả pháp môn Hiển, Mật, Tông Môn,
Giáo Hạ,
đến sau cùng
đều quy hướng tịnh
độ, đồng thời cũng nói rõ,
pháp môn niệm Phật là pháp môn của tất cả
mười phương ba
đời chư
Phật
đều cùng
hoằng dương.
Đại Thế Chí Bồ Tát là sư
Tổ Pháp Giới của Tịnh Độ Tông.
Tịnh
Độ Tông, giải môn thì
y theo tịnh
độ ngũ kinh, hành
môn thì y theo tam phước (quán kinh), lục
hòa, tam học, lục
độ, thập nguyện. Tam phước là
chính nhân tịnh nghiệp của ba
đời
chư Phật, là nền tảng thành Phật.
Tự tánh không hai không
khác, mười phương chư Phật, tam giới chúng
sanh
đều cùng
một thể.
Tất cả pháp môn giáo hóa,
đều kiến lập trong thật tướng.
Đạo là từ trong tâm giác
ngộ, chẳng phải từ bên ngoài mà được.
Nếu tâm hiểm ác, Phật tức
là tâm chúng sanh; trong tâm thanh tịnh bình
đẳng, chúng sanh tức là
Phật.
Trong tâm của chúng sanh
vốn có Phật, Phật ở trong tâm mới là chân
Phật.
Bồ Tát
đại thừa độ tất cả chúng
sanh, Bồ Tát tiểu thừa chỉ
độ người có duyên,
hoàn toàn khác biệt là trong tâm lượng.
Vô lượng làm thể, tất cả
sự trang nghiêm
đều sanh từ trong vô lượng, tự tánh năng
sanh chỉ có một cái, sở sanh vạn pháp thì
vô lượng vô biên.
Nếu như trong
đầu não
chứa
đầy vọng tưởng, trong bụng uất
ức, tâm nhiều phiền não mà
được vãng
sanh, không biết vãng sanh vào một phẩm nào?
Là một
độ nào?
Bốn mươi tám
đại nguyện của Phật A Di Đà,
chúng ta triệt
để có thể học được một, hai nguyện, thì
tuyệt
đối cũng đủ vãng
sanh.
Trong lúc tâm lâm chung,
A Di
Đà
Phật
đến tiễn dẫn, thì
nên lập tức
đi liền, đến lúc đó mà
không chịu buông bỏ tài sản, con cháu v.v…
còn sợ con cháu không thành tài, dặn dò từng
chút, Phật A Di
Đà làm
gì có thời gian
để chờ đợi, bởi vì
còn rất nhiều người
đang chờ Phật
đến tiếp dẫn
đó!
Người hoằng pháp lợi
sanh, trước khi
đi vãng
sanh giảng nói một
đoạn khai thị, rồi mới đi vãng
sanh, cũng như lão cư sĩ Lý Thế Hoa,
đây mới là
công
đức chân thật.
Người thế gian
đều muốn cầu thọ mạng dài
lâu như ông Bành Tổ, tuy nhiên thân thể phải
khoẻ mạnh, nếu như cần phải có sự
đặc biệt chiếu cố, vậy thì
quá khổ cũng quá phiền phước, sớm
đi vãng
sanh còn tốt hơi.
Ngày 18 tháng tư, chùa
Quang Hiếu thuộc tỉnh Quảng
Đông kính thỉnh Tịnh Không Pháp Sư đến để
hoằng pháp.
Bổn Hoán lão Pháp Sư giới
thiệu nói: Xin quý vị hãy dụng tâm mà nghe
pháp.
Tịnh Không Pháp Sư nói:
Có thể
đến ngôi chùa
cổ Quang Hiếu này
để hoằng
pháp, thật vô
cùng vinh hạnh, trong 5 ngày vội vã, giới
thiệu cho quý vị sự nghiên cứu giảng kinh
đã
qua, cùng với quý vị làm
đề tài
tham khảo. Trước tiên phải nhận thức Phật
giáo, chúng ta có thể nhìn thấy hiện nay
trên thế giới có mấy loại Phật giáo: 1. Phật
giáo tôn giáo. 2. Phật giáo học thuật. 3.
Phật giáo tà giáo. 4. Phật giáo truyền
thống. Phật Thích Ca là
đạo sư của chín pháp giới, tư tưởng của Phật
giáo và
nhà Nho có nhiều chổ giống nhau, nội dung
giáo học của Phật giáo là Chư Pháp Thật
Tướng, tức là chân tướng của vũ trụ nhân
sanh.
Đây là
vấn
đề của chính mình.
Nhất
định phải phát tâm chân chính mà
dụng tâm học tập.
Định nghĩa của Phật Trí và
Giác. Trí là chân như trí huệ, tức là tối
triệt
để trí huệ viên
mãn. Tác dụng của trí huệ, tức là hiểu thấu
và giác ngộ, cho nên nói, sự giáo dục của
Phật
đà là
sự giáo dục của lý tánh.
Sở cầu của người thế gian
quy nạp lại, là không ngoại gia
đình
mỹ mãn, hạnh phúc, êm
đềm hòa
thuận, và thế giới hòa bình. Tất cả khoa học
gia, triết học gia v.v…đều
không ngoài
lệ. Bởi quan sát những sự thật như thế,
đều yêu
cầu không ngoài những thứ này. Cho nên sự
giáo dục của Phật
đà,
mới
được tất cả chúng sanh mong cầu tiếp nhận.
Đơn giản mà
nói, hiện nay trong Phật giáo rất thiếu thốn
giáo sư truyền dạy, hội Phật giáo trong nước
có hội hợp thảo luận, làm thế nào
đem Phật giáo nạp vào
học thuật giáo dục. Phật giáo quan trọng
nhất là thấy
được tự tánh, nhà
thiền thì nói minh tâm kiến tánh, giáo hạ
thì giảng
đại khai viên
giải, tịnh tông nói nhất tâm bất loạn.
Nhà Phật nói: Tam Tâm Nhị
Ý. Tam tâm là Tâm Ý Thức, tức là A Lại Da
Thức, Mạc Na Thức và Ý Thức. Nhị Ý tức là Ý
Thức và Thức thứ bảy.
Nào ngờ tự tánh n ăng
sanh
vạn pháp. Bởi vì ngoài tâm không có pháp,
tất cả pháp
đều do tâm sở hiện, do thức sở biến. Trong
thế giới mười phương tuy rằng cũng có tịnh
độ, tuy nhiên
ngoại trừ cõi Tây Phương thì không nơi nào
để đi.
Chính nhân thành Phật là
Tịnh Nghiệp Tam Phước, nền tảng của tất cả
pháp môn và tu tịnh
độ là
Tam Phước. 1.Hiếu dưởng cha mẹ, phụng thờ sư
trưởng, cha mẹ cho chúng ta cái thân thể
này, sư trưởng cho chúng ta huệ mạng. Chữ
HIẾU phía trên là chữ LÃO, phía dưới là chữ
TỬ. Nói rõ là
đời trước và
đời sau đều cùng
một thể, quá khứ vô thuỷ, vị lai vô chung,
đều là
một thể. Thành Phật thì mới có thể làm
được viên
mãn hiếu
đạo. Đẳng giác Bồ Tát hãy
còn một phần Sanh Tướng Vô Minh, vì vậy nhất
định phải làm
Phật, mới có thể làm
đến cứu cánh viên
mãn hiếu đạo.
Trong Phật pháp lấy Ngài
Địa Tạng làm
đại biểu hiếu đạo,
tu từ Tịnh
Nghiệp Tam Phước hướng thẳng lên trên. Trong
kinh thường thấy Thiện Nam Tử Thiện Nữ Nhân,
tiêu chuẩn của chữ Thiện là Tam Phước.
Điện Tứ Thiên Vương là
phần kiến trúc thứ nhất của Phật giáo, tiến
vào cửa chùa là nhìn thấy Di Lặc Bồ Tát,
Ngài đại biểu bao dung, Sanh Bình Đẳng Tâm,
Thành Hỷ Duyệt Tướng. Phương đông là Trì
Quốc Thiên Vương, tận lực phụ trách, bảo vệ
an ninh quốc gia, trước tiên
đem hiếu đạo phát dương rộng lớn. Phương nam
là Tăng
Trưởng Thiên
Vương,
đại biểu tăng trưởng trí huệ đức năng.
Phương tây là
Quảng Mục Thiên Vương, Phương bắc là
Đa Văn Thiên
Vương, là
đại biểu Đọc Vạn Quyễn Sách, Đi vạn Lý Đường.
Lục Tổ
Đại Sư giải thích tam quy y rất rõ
ràng, Quy Y Giác, Quy Y Chánh, Quy Y Tịnh.
Quy là trở về, trong Kinh Hoa Nghiêm Phẩm
Tịnh Hạnh nói, cương lĩnh giáo học của Phật,
là y trong tự tánh tam bảo. Từ nơi tà tri tà
kiến mà hồi
đầu, từ trong nhiểm ô mà
trở về thanh tịnh. Giác mà không mê, Chánh
mà không tà, Tịnh mà không nhiểm. Là phương
châm của tam tự Quy Y, tức là kiến lập trên
nền tảng Tịnh Nghiệp Tam Phước.
Phật pháp, Phật giáo vĩnh
viễn
đi trước thời đại, vì
vậy ngày nay nên
đem Phật giáo hiện đại hóa, sinh
hoạt hóa, không nên vĩnh viễn cứ khư khư cố
mãi khuôn phép cũ,
đạo tràng
có thể giữ lại những hình thức thời xưa,
cũng có thể kiến lập những thứ hiện
đại hóa, đem truyền thống tinh thần phối hợp
trong hiện đại học thuật, khiến Phật giáo
phát dương rộng lớn, để cho thanh niên
đời sau tiếp nối.
Kệ tụng; có Trùng tụng và
Cô Khởi tụng. Trùng tụng là lập lại một lần
trong v ăn
Trường hàng,
là một pháp phương tiện cho người
đến trễ hoặc cho người
nghe chưa
được hiểu rõ.
Cô Khởi tụng là Kệ tụng trong vân Trường
hàng còn thiếu, mục
đích thuyết Kệ tụng là
phương tiện
để ghi nhớ
thuộc lòng, vả lại tiện lợi quán chiếu công
phu.
Người không thật sự tin
tưởng pháp môn trong KinhVô Lượng Thọ Trang
Nghiêm Thanh Tịnh Bình Bình
Đẳng Giác, mà
muốn niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc Thế Giới, há chẳng phải là trò cười hay
sao!
Chúng ta niệm Phật vì
muốn cầu vãng sanh tây phương vô lượng thọ,
tại thế gian này, không những phải nhất tâm
niệm Phật, vả lại phải có tâm nguyện, giải
hành,
đều phải tôn kính A
Di
Đà
Phật làm thầy, thì mới tương ứng y chánh nhị
báo của tây phương.
Nếu muốn
được đến cảnh giới cực lạc thế giới y chánh
trang nghiêm,
trước tiên tâm
địa phải thanh tịnh, chỉ có như vậy mới đạt
đến Đại nguyện của an dưỡng liên
bang. Kinh nói: Tâm tịnh tắc
độ tịnh, tức là
đạo lý này.
Mười phương thế giới hằng
hà sa số chư Phật,
đều khen ngợi tán dương công đức vô lượng
của A Di Đà
Phật cực lạc thế giới, vả lại lấy tâm bình
đẳng của tâm bao thái hư, lượng chu sa giới,
phổ độ vô lượng vô biên
chúng sanh, chưa hề mỏi mệt nhàm chán.
Ta Bà thế giới cũng gọi
là Kham Nhẫn thế giới, sinh sống tại thế
giới này, thật là thân ở trong khổ mà không
biết khổ, chúng ta nhất
định phải giác ngộ, tinh tấn học Phật, tương
lai thì
mới
được vãng
sanh tây phương cực lạc thế giới.
Ngày nay là xã hội danh
lợi, học Phật không dễ, người có trí huệ
chân chánh, thì mới tin tưởng Phật pháp mà
không bị danh lợi trói buộc.
Từng nhớ
đến, mấy năm về trước quy định mời khách đãi
tiệc phải bằng bữa cơm Mai Hoa San (Tổng
Thống Tưởng Kiến Quốc
đề xướng khuyên
mọi người nên tiết kiệm). Ngày nay học Phật
nếu như dụng tâm bất chánh mà tu học, thì sẽ
không thành tựu, cuối cùng thì cũng thụ
hưởng bốn món một canh (tài, sắc, danh,
thực, thùy) không
đúng như pháp, thật là
đáng sợ.
Trên sự thì có
đến đi sanh diệt, bản thể thì
bất
động, chúng sanh si mê
vọng
đem chân như làm
thành chín pháp giới, vì vậy luân hồi chẳng
dứt.
Luân là vòng tròn, cái
chu vi vòng tròn chuyển
động mà
tâm chẳng
động, đây là
đại biểu động tịnh nhất như, tánh tướng
không hai. Phật đà
thuyết pháp
đều là
tùy duyên nói, khế hợp căn
cơ mà
thuyết, Kinh Lăng
Nghiêm
nói: Bất
Động Tùy
Duyên. Vì vậy trong kinh hình dung Phật
thuyết pháp là pháp Luân Thường Chuyển,
đó nghĩa là
Phật tâm không
động, Pháp Luân Thường Chuyển.
Tâm và tâm sở, tâm là bát
thức tâm vương, tâm sở là y tha khởi tánh.
Cùng
đối đãi
với pháp tâm sở là sắc pháp, (ngũ căn
và lục
trần), sắc pháp là y tha khởi tánh, tên câu
văn
là
biến kế sở chấp tánh.
Từ sơ phát tâm
đến Đẳng Giác Bồ Tát,
đều
lấy tâm chân như
để liễu giải
chân thật
nghĩa của Phật pháp, nếu không thì làm sao
thành Phật.
Diệu chân như tánh, mọi
người
đều có đầy đủ, bởi vì
vô minh che
đậy, cho nên
chẳng hiện, nếu như có thể buông bỏ vạn
duyên, nhất tâm niệm Phật, công phu thành
phiến, thì sau
đó ánh sáng trí huệ mới có thể chiếu phá vô
minh, chân tánh tự nhiên
hiển lộ.
Chúng ta mọi người
đều có đầy đủ bát thức tâm vương, Phật pháp
nói: Chuyễn Thức Thành
Trí, cái
điểm này
nói khó thì không khó, nói dễ thì khônh dễ.
Chúng ta
đều đã
biết học Phật thì không phân biệt, không
chấp trước, không
động niệm, nhìn
thấu buông xả, cái
điểm này
phải từ trên tám thức mà nói; phần trước năm
thức chỉ có tác dụng liễu biệt, thức thứ sáu
thì
hoàn toàn là vọng tưởng phân biệt, thức thứ
bảy là chấp trước (ngã chấp) (pháp chấp)
hoàn toàn là tác dụng của thức thứ bảy. Có
thể nhìn thấu thì chuyển thức thứ sáu thành
Diệu Quan Sát Trí; Có thể buông xả thì
chuyển thức thứ bảy thành Bình
Đẳng Tánh Trí. Bởi thức thứ sáu và
bảy là tu nhân, thức thứ tám là không tính
thiện ác, chỉ có tác dụng thâu vào chứa
nhóm. Sau khi thức thứ sáu và bảy hai thức
này từ trên nhân chuyển qua, thì thức thứ
tám chuyển thành
Đại Viên
Cảnh Trí, cũng là tu quả.
Buông bỏ: khổ, lạc, ưu,
hỷ, xả, thì mới
được đại tự tại, người còn
mê thì vĩnh viễn còn trong ba
đường thiện và
ba
đường ác, ở trong lục đạo lúc nhoi lên
lúc chìm xuống.
Phật nói: Tất cả chúng
sanh
đều có đức tướng trí huệ như lai, chỉ vì
mê hoặc quá nặng, không thể thành Phật. Thật
ra mê hoặc có thể thành một vị mê hoặc Phật,
tâm
địa thanh tịnh thì
có thể thành một vị thanh tịnh Phật, một câu
A Di
Đà
Phật có thể thành một vị Vô Lượng Thọ Phật.
Kinh Di
Đà
nghĩa lý thâm sâu, tu pháp môn tịnh
độ trước tiên
phải hiểu rõ nghĩa lý, niệm Phật thì mới
được đắc lực. Nếu như có thể Lão
Thật Niệm Phật, không
đổi đề mục khác thì
được đại lợi ích.
Vô ngại; là nói tâm cảnh
lý sự, tâm là bát thức tâm vương, cảnh và sự
là tùy theo tướng, lý quy về tánh
đều quán thông với nhau. Nhất tâm vốn có đầy
đủ hai
môn chân như và sanh diệt, chân như có thể
tùy sanh diệt, lý không ngại sự, vì vậy nói
sanh diệt tức là chân như, lý và sự vốn viên
dung.
Thánh nhân vốn vô ngã, vì
sao trong tất cả kinh xưng là ngã? Trí Luận
nói có ba: Một là tùy thuận thế tục. Hai là
phá trừ tà kiến. Ba là không chấp trước vô
ngã, pháp thân là chân ngã, do vậy mà xưng
là ngã.
Tri Thức; thấy hình là
Tri, thấy tâm là Thức.
A La Hán có ba ý nghĩa:
Ứng Cúng, Sát Tặc, Phá Ác. Ứng Cúng là phạm
hạnh
đã
lập, siêu thoát tam giới, chứng
đắc tứ quả,
nên nhận lấy sự cúng dường của trời người,
là chân thật thanh tịnh phước
điền, vì
vậy xưng là Ứng Cúng.
Học Phật trước tiên phải
tự
độ, sau đó mới độ người, chỉ thấy người khác
có lỗi lầm, mà
không thấy chính mình có sai quấy. Người thế
tục nói: Tu kỷ nhi bất trách nhân, người
không học Phật còn
được như thế, huống chi là
người có tu học.
Phật tưởng nhớ chúng
sanh, chúng sanh tưởng nhớ Phật, tâm Phật
tức tâm chúng sanh, tâm chúng sanh tức tâm
Phật, một câu A Di
Đà
Phật, bao gồm tất cả mười phương chư Phật,
tất cả chúng sanh
đều là
Phật vị lai, duy tâm tịnh
độ, tự
tánh Di
Đà,
tâm Phật chúng sanh ba không khác biệt.
Chúng sanh có cái tâm thành Phật cùng tâm
Phật tương ưng. Kinh nói: Phật Phật
Đạo Đồng.
Có thể
đạt đến cảnh giới vắng lặng, trong tâm đã
xả bỏ
được sạch
sẽ,
đây là
cảnh giới chứng
được
nhất tâm bất loạn.
Thế gian và xuất thế
gian, không một pháp nào là không phải Phật
pháp, thuộc về thiện tức là Phật pháp, thuộc
về ác tức là Ma pháp.
Đại trí của năng chứng
cùng cảnh giới sở chứng, đều khởi từ tâm đại
bi.
Người thế gian cố gắng
phấn
đấu làm
công việc,
đại đa số chỉ vì
danh lợi, nếu không có danh lợi, thì tâm
tiến thủ của người thế gian cũng giảm ít.
Tự tánh của con người
bình
đẳng không hai; Trí huệ của con người thì
có khác biệt, nguyên nhân là phiền não nhẹ
hay nặng, còn như giàu nghèo sang hèn là quả
báo do
đời trước tu được.
Như Lai là các pháp như
nghĩa, Như là tự tánh bất
động, tự tánh vốn không đến không đi, mà
người phàm phu cho là có
đến có đi, vạn pháp đều như vậy.
Vô tướng là hàng nhị thừa
chứng
được cái lý biên
không; Vô bất tướng là cái lý chấp có của
phàm ước phu. Thật tướng, vô tướng vô bất
tướng, chẳng không chẳng có, chẳng phải
không chẳng phải có, không hữu nhất như,
không chấp hai bên, chứng
được đệ nhất nghĩa, Thiền tông nói: lìa
ngôn thuyết văn
tự
tướng, tức là thật tướng, thật tức là không
vọng, vọng tức là không thật, lìa tướng hư
vọng, tức gọi là thật tướng.
Từ tướng hiển lý, từ lý
hiện tướng, rời tất cả tướng tức tất cả
pháp, từ lý thành sự, do sự hiển lý, sự lý
viên dung.
Lục c ăn
tiếp xúc lục trần không khởi tâm động niệm,
sao lại còn
phải tu
định.
Một câu A Di
Đà
Phật, câu trước vừa qua, câu sau kế tiếp,
còn phải tu thêm pháp gì cao tột.
Biết chữ cũng tốt, không
biết cũng tốt, có thể tin sâu không hoài
nghi tịnh
độ, đều là
thượng căn
lợi trí.
Trang nghiêm; trang trọng
nghiêm kính gọi là trang nghiêm, trong trang
trọng bao gồm cả từ bi, trong nghiêm kính có
cả ôn hòa, nếu không thì có thể khiến cho
mọi người
đều hoảng sợ bỏ chạy.
Thanh tịnh; không lẫn lộn
là thanh, không nhiểm ô là tịnh, trong nước
sạch cần phải có hoa cỏ, dưới
đáy nước cần phải cát đá, nếu không thì
ngay cả cá cũng không có, vì vậy nói thanh
tịnh
đem lại sự yên
tịnh tốt
đẹp.
Bình
đẳng; từ bản tánh mà
nói, mọi người
đều bình
đẳng, Phật nói tất cả chúng sanh
đều có
như lai
đức tướng, bởi mê
mất cái tâm năng
tri năng giác và
ý niệm sở tri sở giác, phải khôi phục lại tự
tánh bản thể của bản tri bản giác, thì mới
bình
đẳng.
Một niệm không giác thì
sanh vô minh! Niệm niệm giác ngộ không phải
là sớm
đã
thành Phật rồi sao?
Pháp luân như bánh xe,
cần phải thường chuyển
động, Phật pháp cần phải thường thường hoằng
dương, phải tùy
thời tùy nơi hoằng dương.
Đây gọi là
ứng cơ thuyết pháp, bởi vì Phật pháp không
phải là pháp tắc chết.
Tam giới như nhà lửa, rất
cần phải có nước thanh lương
để tẩy rửa, nước này
không cần tìm bên ngoài, tự tánh có
đầy đủ, chúng ta không thể quên
đi, tự mình
thanh lương cùng người thanh lương tức là
đại Bồ Tát.
Kinh Kiết Hung nói: Kiếp
này súc sanh
ăn cỏ uống nước suối, đều do kiếp trước lúc
làm
người tàn bạo vô
đạo, sát hại tổn thương súc sanh cho nên
phải chịu quả báo, ngày nay chúng ta
được làm
người cần phải cẩn thận không? Tục ngữ nói:
Muốn biết thân quá khứ, là
đời này
chịu thọ, muốn biết quả
đời sau, là
đời này
tạo ra.
Đề Kinh ( Phật Thuyết Đại
Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh
Bình Đẳng Giác Kinh ), Vô Lượng Thọ là Phật
bảo, Đại Thừa Trang Nghiêm là Pháp bảo,
Thanh Tịnh không nhiểm là Tăng bảo, Bình
Đẳng Giác là nói hữu tình và vô tình đồng
viên chủng trí.
Đàn Kinh nói: Một niệm
trí tức bát nhã sanh, một niệm ngu tức bát
nhã dức, người thế gian ngu mê, thường tự
nói ta tu bát nhã, niệm niệm thuyết không,
mà không biết chân không, bát nhã vô tướng
vô bất tướng, bát nhã không biết không chổ
nào không biết.
Trí Luận nói: Phật pháp
như biển lớn, chỉ tin mới
được vào,
tin là sự thật như vầy. Hai chữ Như Thị (như
vầy) là nghĩa tín thuận, hai chữ như thị rất
nhiều nghĩa
để giải thích, tổng kết một câu pháp là
như vầy, vạn pháp vốn là như vầy. Tâm Kinh
nói: …bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh,
bất tăng
bất giảm…tức là
nghĩa lý vốn như vầy.
Nhất chân pháp giới và
thập pháp giới có phân biệt như thế nào? Một
niệm giác ngộ tức là nhất chân pháp giới,
nhất chân tất cả
đều chân,
một niệm mê hoặc tức thì có phân biệt thập
pháp giới. Cho nên nói, một niệm của Phật
đầy đủ thập pháp giới, một niệm của chúng
sanh cũng đầy đủ thập pháp giới.
Lấy vàng
để làm
tượng, nếu làm thành tượng Phật, thì chúng
sanh
đối với Ngài
rất cung kính; nếu làm thành tượng Ma, thì
mọi ngưới
đều chán ghét, vì
không biết bản thể của tượng Phật và tượng
Ma
đều là
hoàng kim, là Phật hay là Ma
đều trong một tâm niệm.
Thế giới ngày nay, thật
sự có thể gọi là ngũ trược ác thế.
Phật Thất --- thường nói
Đã
Phật Thất, làm thế nào
Đã
Phật Thất cho
đúng pháp, tức là
niệm Phật bảy ngày trong một thời hạn. Có
thể niệm một cái Thất, hai cái Thất, ba cái
Thất, cho
đến bảy cái Phật Thất. Đã
là trợ từ, cái nghĩa thật của nó là Khắc Kỳ
Cầu Chứng. (trong lúc
Đã
Phật Thất phải thật tinh tấn niệm Phật cầu
chứng
đắc)
Niệm Phật nhất
định phải buông xả vạn duyên,
nhất tâm thanh tịnh xưng niệm Phật hiệu, thì
mới
được đắc lực.
Trong hàng tiểu thừa có
tánh lợi c ăn,
có thể từ tứ thiền thiên
vượt ra khỏi tam giới, không cần phải lên tứ
không thiên.
Thuyết tất cả pháp
đều từ duyên
sanh, là
để phá trừ cái thuyết tự nhiên
của ngoại
đạo; thuyết tất cả pháp đều là
duy thức sử hiện, là
để phá trừ tâm ngoài
có pháp của tiểu thừa; thuyết tất cả pháp
đều là
Như Lai Tạng, là
để phá trừ
không hiểu
tâm cảnh
đều không của quyền giáo. Đây là
giáo nghĩa của Tông Hiền Thủ, tam chuyển tam
phá.
Tục ngữ nói:
Để sanh tử ở phía ngoài,
chữ
độ nếu quả thật được như vậy, thì
niệm Phật liễu sanh tử không khó khăn.
Trí thuộc vận chuyển, Huệ
thuộc hành
động, tự tánh thường định là
ý nghĩa
ăn cơm, tự tánh thường huệ là
ý nghĩa kinh hành.
Lên trời cũng tốt, thành
Phật cũng tốt, trước tiên phải tu ngũ giới
thập thiện, phá trừ tam
độc, phải tu từ chân tâm mà
ra, không phải tu trên miệng nói, thì mới có
lợi ích, cần phải hiểu thêm một bước, tứ
đại khổ không, ngũ ấm vô ngã,
thì mới có thể nhìn thấu buông bỏ.
Vãng sanh tây phương tịnh
độ được vô lượng thọ, năng chứng đắc vô
lượng thọ, đương nhiên
vĩnh viễn không thối chuyển. Theo ý nguyện
của mình trở lại thế gian phổ
độ chúng sanh, Phật pháp nói:
Đão
Giá Từ Hàng. (cởi thuyền từ bi trở về)
Chư pháp thật tướng, tất
cả pháp
đều có tướng chân thật, tức là
Không Tướng; tất cả pháp thế gian
đều thuộc tướng sanh diệt, tức là
Duyên Sanh Pháp. Tất cả pháp vốn là như vầy
(như thị), là vì chúng sanh bị mê hoặc
điên
đão,
vọng tưởng phân biệt,
đem cái pháp vốn có thanh tịnh như vầy biến
thành
pháp nhiểm ô.
Bản tánh vốn là thanh
tịnh, không có tơ hào phiền não, nay có
phiền não các khổ, hoàn toàn là do tâm thức
gây ra.
Đạt Ma Tổ Sư đến đông độ
truyền pháp, thiền tông có tất cả sáu đời tổ
sư, đến Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư về sau thì
chia thành năm phái. Từ Sơ Tổ Đạt Ma Tổ Sư,
đời thứ hai Huệ Khả, tam tổ Tăng Xáng, tứ tổ
Đạo Tín, ngũ tổ Hoằng Nhẫn, lục tổ Huệ Năng.
Từ đây về sau phân thành Bắc Thiền Thần Tú,
Nam Thiền Huệ N ăng.
Đức Phật xuất thế di bảy
bước, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, cái
ý là nói Thiên Thượng Thiên Hạ, Duy Ngã Độc
Tôn, thật là bất khả tư nghì. Đứa trẻ sơ
sanh trong thế gian, chỉ biết kêu khổ oa!
oa!... Kiếp này
đã
xong, nếu như kiếp sau sanh trong nhân
đạo, tôi nhất định học Phật đi bảy bước.
Đầy đủ tín hạnh nguyện
tam tư lương, mang nghiệp vãng sanh vào phàm
thánh đồng cư độ, tôi đã chuẩn bị đầy đủ;
kiến tư phiền não chưa phá, phương tiện hữu
dư độ tôi không có phần; phá một phần trần
sa vô minh chứng một phần pháp thân, tôi
cũng không có phần, còn nói chi đến thường
tịch quang độ? Được sanh tây phương, siêu
việt tam giới, cũng giống như ngồi trên xe
chạy thẳng ngang qua dục giới, sắc giới, vô
sắc giới,
được sanh vào
nhất
độ, thì
tứ
độ đều sanh, không chút nghi vấn. Nếu nhất
độ đi cũng không thành,
thì chỉ hồ
đồ đi vào
lục
đạo! Vậy
thì sự khổ vĩnh viễn không dứt.
Mười phương ba
đời
chư Phật, cùng
đồng một pháp
thân, tôi cũng không ngoài lệ, cùng Phật
đồng một pháp thân.
Lục Tổ học Phật là vì
muốn thành Phật, chúng ta sao lại từng chẳng
phải? Hay là chỉ vì cầu danh v ăn
lợi dưỡng?
Muốn vãng sanh tây
phương,
đừng quên
mang theo tư lương---Tín, Nguyện, Hạnh, nếu
như tư lương không
đủ, quyết đi không thành.
Đức Phật nói: Tất cả
chúng sanh đều có như lai đức tướng, tất cả
chúng sanh đều là vị lai Phật. Sâu mọt cũng
là một trong chúng sanh, nó có thể thành
Phật hay ch ăng?
nếu có thể thành
Phật, tức nó không còn
đục khoét kinh tạng.
Tụng niệm Kinh
Địa Tạng không những không xuống địa ngục,
vả lại có thể sanh tịnh độ, chỉ cần phát
nguyện niệm Phật, Phật quyết không bỏ một
chúng sanh nào.
Bên trong có tam
độc phiền não,
bên ngoài có ngũ dục lục trần mê hoặc, nội
ứng ngoại hợp, thì không thể thu dọn.
Cung kính lễ bái, ở tại
chổ nhất tâm, mà không phải là bái ba ngàn
lạy, bái mười ngàn lạy, lạy tới lạy lui,
không khai ngộ vẫn là một người ngu si phàm
phu sanh tử.
Phật chế nghỉ dưới gốc
cây một
đêm,
ngày ăn một bữa, ngày nay hành không thông,
bởi vì thời
đại khoa học,
chổ nào có
thể hoằng pháp, nơi nào là chổ tu hành tức
là
được. Không cần xây dựng đạo tràng
lớn, thậm chí còn có pháp sư xây dựng bảo
sát vô cùng kiên cố huy hoàng.
Ngũ dục là n ăm
gốc rễ của địa ngục, bốn chúng đệ tử không
thể không chú ý.
Nền tảng của Phật pháp,
là hiếu dưỡng cha mẹ tôn kính sư trưởng, mãi
đến rộng lớn vô duyên
đại từ tức là
đại hiếu,
cư xử với tất
cả chúng sanh
đều như vậy.
Nếu muốn
được quả báo tốt, nhất định phải có nghiệp
nhân tốt. Đã
có quả báo tốt, còn phải vun trồng thêm
phước
đức, nếu không thì
trong nháy mắt phước báo tiêu mất.
Ngài Di Lặc Bồ Tát, nở
mặt tươi cười, cái bụng to lớn, miệng thường
vui cười; bụng lớn có thể dung nạp, dung nạp
sự việc mà người không thể dung nạp.
Người thế gian học Phật,
phân nửa mục
đích là
cầu thọ, cầu tài, cầu làm quan, cầu ngũ dục
không thiếu, kết quả là
đổi được một cái nghiệp ba đời oan trái, đi
đến ác đạo để thọ báo.
Người thế gian kêu khổ,
nhưng không biết khổ từ
đâu đến, con người đối với hoàn
cảnh sinh sống phải hiểu rõ, nếu như mê hoặc
tức còn có khổ,
đi cầu thần minh giúp đở thì
mê lại càng thêm ngu. Vì vậy Phật dạy chúng
sanh phá mê khai ngộ, chân thật
được khai ngộ, thì
mới lìa khổ
được vui. Phật dạy không có tơ hào
mê tín. Phật thuyết pháp 49 năm,
là
muốn
đem thật tướng của vũ trụ nhân sanh, chỉ dạy
cho chúng ta nhận thức rõ
ràng. Phiền não của tất cả chúng sanh
đều do tự tâm sanh khởi, cũng không phải ngoài
đến, sai lầm là
sai ở chổ chúng sanh nhận lầm cái thân hiện
tiền tứ
đại ngũ uẩn là
của chính mình,
đây là
sai lầm rất lớn.
Cái không gian sinh hoạt
thật sự của chúng ta là tận hư không, biến
pháp giới, không phải chỉ nhỏ hẹp trong một
gia
đình
hay một xã hội, hoặc một
địa cầu thế giới. Chúng ta muốn vãng
sanh tây phương cực lạc thế giới, chỉ cần
chúng ta chịu cầu vãng sanh, nhất
định được đi, vì
vậy chúng ta học Phật nhất
định phải mở rộng tâm lượng, trước tiên
phải trừ bỏ phân biệt, chấp trước, phiền não.
Phật pháp nói: Tam Bao Thái Hư, Lượng Chu Sa
Giới. Quả thật
được như thế, thì
không gian sinh hoạt của chúng ta lớn biết
bao nhiêu!
Thông thường nói nhân quả,
thật ra phải có
đầy đủ bốn thứ duyên---thân
nhân duyên, sở duyên duyên, vô giác duyên, tăng
thượng duyên.
Vì vậy tất cả pháp gọi là pháp Duyên Sanh.
Tông môn, là
đơn chỉ thiền tông, ngoài
ra
đều thuộc Giáo hạ. Giáo hạ thì
y theo kinh
điển văn tự, Tông môn là
trực chỉ tâm tánh, phải là thượng căn
lợi trí, thì
mới có thể một bước
đăng thiên.
Tông môn tuy nói không lập văn
tự, thật ra văn tự của Thiền tông còn
nhiều hơn so với những tông khác.
Tu học Phật pháp, trước
tiên phải làm
đến tâm chân thành
ý cung kính.
Phật pháp là hướng nội
cầu, không phải hướng ngoại cầu. Phật nói:
Vạn Pháp Duy Tâm, hướng ngoại cầu thì gọi là
ngoại
đạo. Học Phật phải cầu chánh pháp, là
vô cùng quan trọng.
Chỉ biết
đọc tụng kinh điển mà
không y theo tu hành, giải hành không thể
cùng chung, thì phụ lời Phật dạy.
Phật nói: Tất cả chúng
sanh
đều có như lai đức tướng, tất cả chúng sanh
đều là
vị lai Phật.
Phật pháp truyền qua
trung quốc
đến nay cũng có hơn 2000 năm, xã
hội ngày nay, hình thức Phật pháp ít nhất có
năm
loại:
---Phật pháp tùy thuận
tôn giáo thông thường cũng biến thành tôn
giáo, thật khiến người phải tiếc thương.
---Âu Dương Cánh Vô Tiên
Sinh nói: Phật pháp chẳng phải tôn giáo
chẳng phải triết học. Thông thường tôn giáo
đều có một vị thần tối cao vô thượng, Phật
chẳng phải thần, Bồ Tát cũng không phải thần.
Phật pháo là
pháp bình
đẳng, Phật giáo chẳng phải tôn giáo trong
khái niệm của một nhóm người. Vào
thời
đại Tùy
Đường bên
trung quốc, Phật pháp vô cùng hưng thịnh, có
những vị pháp sư rất thông minh, biên soạn
một phần trong kinh giáo
để tu học.
Phật pháp có
mười
đại tông: Tiểu thừa có hai tông (Thành
Thật Tông, Câu Xá Tông) ngày nay
đã
không còn;
Đại thừa có tám đại tông, hiện nay Tam Luận
Tông, Duy Thức Tông, Thiên
Thai Tông, cũng ít thấy. Còn lại thì chỉ có
Tịnh
Độ Tông, Thiền Tông, Mật Tông.
Ngày nay in kinh, so với
ngày xưa công
đức ghi chép kinh, không biết ai được công
đức lớn ai được công đức nhỏ, lấy Phật pháp
mà nói,
nhất
định là
công
đức bằng nhau.
Lục Tổ khai ngộ là từ
Kinh Kim Cang,
đến ngày
nay không người nào mà không biết Kinh Kim
Cang. Ngày nay Thiền Tông dần dần suy kém,
bởi vì người ngày nay quá nhiều phiền não,
người thượng căn
quá ít, tu Tịnh Độ Tông dễ thành
Phật, giống như
đi thang máy,
rất trực tiếp dễ dàng
đi thẳng lên
trên. Ngài Thiên Thân Bồ Tát làm Vãng Sanh
Luận, tuy rằng văn
tự không nhiều, nói rất rõ
ràng tường tận, rất
được để cho chúng ta nghiên
cứu học tập.
Trong ngũ kinh tu học dễ
nhất, vả lại có thể t ăng
trưởng tín tâm, nguyện tâm, đó lài
Kinh Vô Thượng Thọ, nếu không, tùy ý muốn
chọn một bộ kinh nào, một môn thâm nhập
đều có thể được.
Bên trong tam giới tu
nhân Phật, ở trong tam giới nhất
định thành
Phật.
Kinh Vô Lượng Thọ là
trung bản Hoa Nghiêm, Kinh A Di
Đà là
tiểu bản Hoa Nghiêm, Ấn Quang
Đại Sư đem Viên
Thông Chương thêm vào phần sau của tứ kinh,
cộng chung là ngũ kinh. Cái
đạo lý của Viên
Thông Chương thâm sâu vi diệu. Là cương yếu
của Bát Nhã Tâm Kinh, mà Viên Thông Chương
là Tâm Kinh của Tịnh
Độ Tông.
Bởi vì xuất gia là
đệ nhất, tại gia là
đệ nhị, vì
vậy lão cư sĩ Hạ Liên Cư gặp chướng ngại
trùng trùng; Bởi vì Lục Tổ chưa xuất gia mà
nhận y bát, vì vậy cũng có rất nhiều trở
ngại.
Ngay trước mắt chúng ta
phải nhận thức chánh pháp, nếu như xem Phật
Bồ Tát như là thần minh, tức là tôn giáo rồi,
thì sai lệch cái ý nghĩa chân thật của Phật
dạy.
Ý nghĩa tôn thờ tượng
Phật là kỷ niệm, lại có ý nghĩa là thấy bậc
thánh hiền tự nghĩ mình ngang hàng với các
ngài. Chẳng nên xem Phật như là thần minh
vạn n ăng,
Phật và
chúng ta là quan hệ thầy trò.
Chính trị, chính là người
thật thà có học vấn có
đức hạnh, có thể vì
đại chúng làm
việc, là người có thể sửa trị việc nước, thì
gọi là chính trị. Phật Thích Ca và Khổng Lão
Phu Tử
đều có thể làm
được, nhưng không chọn theo chính trị làm
mà lấy giáo dục
để giáo hóa, chúng ta phải y theo mà
học tập.
Bản ý của Phật giáo, sự
giáo hóa của Phật là giáo dục. Bồ Tát là học
trò của Phật, chúng ta cũng là học trò của
Phật,
điểm này
phải hiểu rõ. Hiện nay có nhiều tà giáo của
Phật giáo
đang
làm mê hoặc chúng sanh, điểm này chúng ta
cần phải nhận thức rõ ràng.
Người có nghiệp chướng
sâu nặng, gặp
được pháp môn niệm Phật mà
không thể sanh tâm vui mừng, nếu nhất tâm
nhất ý niệm Phật, thì nghiệp chướng mỗi ngày
được tiêu
trừ, tâm vui mừng tự nhiên nảy sanh.
Sáu phương Phật trong
Kinh Di
Đà
cùng mười phương Phật là
đồng nhau, chỉ là
lược bỏ tứ duy.
Kinh Vô Lượng Thọ có thể
trị
được cái bệnh hiện tại của tất cả chúng sanh,
là bởi
vì kinh này cùng với chúng sanh
đời mạc pháp rất khế hợp, vì
kinh này tam căn
phổ bị, lợi độn toàn
thâu. Những tông khác phần nhiều phải có căn
cơ viên
đốn, như thiền tông cần có thượng căn lợi
trí mới tiếp nhận được, đối với kinh này
phải nghe nhiều
đọc nhiều, thì
mới
được nhiều lợi ích.
Kinh nói; Tâm này là Phật,
tâm này là Phật. chỉ cần cái tâm của ta là
tâm Phật, tự nhiên cái tâm này tức là Phật.
Mười phương ba
đời chư Phật, tức là
một vị Phật.
Trong thời
đại hiện nay,
Đức Thế Tôn vì
chúng sanh thuyết Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh
Quán vô Lượng, Kinh A Di
Đà,
thật
đúng hợp với căn cơ chúng sanh. Trong Hạnh
Phổ Hiền đã
nói rõ, chỉ có pháp môn tịnh
độ mới
là cứu cánh thù thắng nhất, mà Kinh Vô Lượng
Thọ là khái yếu của Tịnh
Độ. Kinh Quán Vô Lượng, Phật dạy chúng ta
quán tưởng, quán tướng, trì
danh niệm Phật, trọng yếu nhất là trì danh
niệm Phật. Vì vậy Kinh Di
Đà lấy
lợi
độn toàn
thâu, tam căn
phổ bị để cứu độ chúng sanh. Một câu
Phật hiệu
được sanh tây phương tịnh độ, vả lại do công
phu sâu cạn được sanh vào
tứ
độ vĩnh viễn không thối chuyển.
Có người nói
đã
thất, là bảy ngày niệm Phật,
đoạn trừ thức thứ bảy, nhưng không biết phương
pháp
đoạn trừ như thế nào?
Phật pháp có nhiều pháp
môn, trong thời kỳ mạc pháp có thể khế hợp
với c ăn
cơ chúng sanh là
pháp môn niệm Phật. Phật tại bất cứ trong bộ
kinh
điển nào,
đều khuyên
chúng sanh nên khởi lòng tin, tin tưởng kinh
Phật, phải phát tâm
đại nguyện, phải thật sự tu hành.
Nhất là
đối với kinh điển tịnh độ, càng
nên khéo dạy không mệt. Người có lòng tin,
phải thật sự tin tưởng có tây phương tịnh
độ; nguyện lực bao trùm
khắp pháp giới, tu hạnh Phổ Hiền, viên mãn
thành chánh quả, tự giác giác tha, thường
chuyển vi diệu pháp luân.
Hạnh Phổ Hiển, trong tâm
của Bồ Tát không có vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước, vì vậy tâm mới thanh tịnh, đối
xử vơí tất cả chúng sanh có tâm bình đẳng.
N ăm
mươi hai giai cấp là
của Bồ Tát tu hành. Từ Thập Tín
đến Diệu Giác, một câu A Di Đà
Phật, tức thành chánh quả.
Tây phương cực lạc thế
giới, gương mặt người người
đều giống nhau, mỗi người có cái nghiệp nhân,
mỗi mỗi có cáo quả báo, Phật A Di Đà
thương xót chúng sanh, khi chúng sanh xả bỏ
báo thân này vãng sanh tây phương cực lạc
thế giới,
được cái báo thân tất cả đều bình
đẳng, thật không thể nghĩ bàn.
Ngài
Đại
Thế Chi Bồ Tát tại Trong Kinh Lăng
Nghiêm
nói ra
đại đạo lý là
Đều Nhiếp Sáu Căn, Tịnh Niệm Kế Tiếp, Vào
Tam Ma
Địa, Đó Là
Đệ Nhất. Đây là
Phật hỏi
Đại Thế Chí Bồ Tát làm
thế nào
được thông đạt viên
mãn, pháp môn cứu
độ chúng sanh.
Tứ
đại Bồ Tát, tứ đại danh sơn---Địa Tạng, Quan
Âm, Phổ Hiền, Văn Thù,
tứ
đại đạo tràng,
tất cả
đều để trong chân tâm của chúng ta, so với
triều sơn còn
thù thắng hơn. (Triều Sơn là lên núi lễ lạy
chư Bồ Tát)
Viên Thông Chương nói:
Đều Nhiếp Lục Căn, Tịnh Niệm Kế Tiếp, là
hoàn toàn cùng với tịnh
độ tương
ưng.
Trong Kinh Di
Đà nói
hoa sen có bốn màu sắc, là
đại biểu bốn thứ tịnh đức Thường Lạc Ngã
Tịnh, thật ra hoa sen có vô lượng màu sắc.
Hoa sen mọc từ bùn nhơ mà không nhiểm ô, là
thí dụ không nhiểm trước lục
đạo tứ thánh, đại biểu cho nhất chân pháp
giới, nhân quả đồng thời.
Phương
đông Trì
Quốc Thiên Vương, Trì Quốc là thật sự giữ
trách nhiệm. Phương nam Tăng
Trưởng Thiên
Vương, Tăng
Trưởng là
tiến bộ, ngày nay đổi mới. Phương tây Quảng
Mục Thiên Vương, Phương bắc Đa văn Thiên
Vương, là học rộng nghe nhiều.
Thầy Lý ở
Đài
Trung nói: Có pháp môn tốt như vậy, mà có
người không chịu niệm Phật cầu vãng sanh,
thật là ngu si
điên
cuồng.
Có tính tâm thanh tịnh,
thì mới có nguyện tâm thanh tịnh, thì sẽ có
tịnh hạnh chân chánh, sau
đó mới có thể thành
Phật thanh tịnh trang nghiêm, viên thành
Phật tánh. Viên Thành Thật Tướng, Viên Thành
Bồ
Đề.
Tây phương thế giới không
những không có lục
đạo, nhị thừa cũng không có, quyền giáo Bồ
Tát cũng không có, tất cả đều là
đại thừa viên
giáo Phổ Hiền Bồ Tát.
Tịnh Tông là
đại thừa Phật pháp, nhất định phải lấy tam
phước làm
nền tảng tu học --- hiếu dưỡng cha mẹ, phụng
thờ sư trưởng, tâm từ không sát v.v… mười
một
điều, đây là
tiêu chuẩn của thiện nam tử, thiện nữ nhân,
tu theo
đại thừa nhất định phải tuân thủ.
Tất cả kinh
điển đều là
quyến thuộc của Hoa Nghiêm, Kinh Vô Lượng
Thọ là nơi trở về của Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm
là kinh trung chi vương, Kinh Vô Lượng Thọ
là vương trung chi vương. Kinh Vô Lượng Thọ
là trung bản Hoa Nghiêm, Kinh Di
Đà là
tiểu bản Hoa Nghiêm.
Tịnh
độ ngũ kinh, lần thứ nhất hộp tập là
Vương Long Thơ hộp tập. Ngày xưa muốn mong
cầu một cuốn kinh rất khó khăn,
ngày nay kinh
điển chất đầy như núi.
Giới
Định Tuệ là
tánh
đức, sở niệm Phật hiệu là
bản giác, cái tâm năng
niệm là
thỉ giác.
Bát
địa Bồ Tát mới có thể thấy được cái niệm vi
tế, muốn vãng
sanh nhất
định tâm địa phải thanh tịnh thì
mới
được vãng
sanh. Chân ngữ là lời nói thật, thật ngữ là
lời nói chân thật, như ngữ là lời nói như
thật tướng. Trong 48 nguyện của Phật A Di
Đà
quyết không có một câu vọng ngữ, mỗi một
nguyện
đều cùng
với chân tâm chân tướng tương ưng.
Một niệm không sanh gọi
là Thành, tâm chân thành không có vọng tưởng,
tạp niệm, mới là
đạo Bồ Đề, mới là
chân Bồ Tát.
Tây phương cực lạc thế
giới mưa xuống
đều là
rải xuống hoa Mạn
Đà La,
ở ta bà thế giới này mưa xuống
đều là
nước mưa không sạch. Hiện nay càng ghê gớm
hơn, trời mưa xuống
đều là
mưa chua, nếu như rơi trúng trên
đầu, thì
sẽ rụng tóc,
đây là
Duy Tâm Sở Biến hay là Duy Thức Sở Hiện?
Bởi vì trong Tâm Kinh nói:
Vô nhãn nhĩ tỷ thiện thân ý, vô sắc thanh
hương vị xúc pháp, hai câu kinh v ăn
này
tôi
đã
hiểu rõ --- Không có lục căn
thì
làm sao có lục trần chứ?
Thiền: bên ngoài không
chấp trước tướng, trong tâm không
động niệm, thân động tâm không động.
Ưng Vô Sở Trụ là lìa
tướng, Nhi Sanh Kỳ Tâm là tức tướng.
Nhiều người hỏi nghiệp
chướng hiện tiền thì phải làm sao
đây? Đây là
việc rất
đơn giản, một câu thánh hiệu A Di Đà
Phật, tất cả
đều được giải quyết.
Lúc
Đức Phật còn
trụ thế, Phật chỉ thuyết pháp hay là khai
thị, nhiều người
đều được khai ngộ; Hiện nay tại sao người
nghe kinh, tụng
kinh mà chẳng
được khai ngộ, vả lại nghiệp chướng thường
hiện tiền, đây là
do nguyên nhân gì? Nếu như có thể
đem nghiệp chướng bỏ đi, tôi nghĩ rằng nhất
định được khai ngộ.
Vạn Pháp Quy Nguyên Vô
Nhị Lộ. (tất cả các pháp trở về nguồn không
có hai
đường)
Có người trong miệng niệm
A Di
Đà
Phật, tay thì cầm dao giết gà, lại mong muốn
vãng sanh tây phương, thật không thể
được.
Phật pháp ngày nay tuy
rằng không người thuyết, nếu không có trí
huệ mà thuyết thì giảng giải không
đúng, khiến cho người hiểu lầm.
Ngày xưa
đem pháp đại thừa tỷ như xe trâu trắng lớn,
tiểu thứa tỷ như xe hươu, xe dê,
hiện nay nên
đem pháp đại thừa tỷ như xe lửa, tiểu thừa
tỷ như
xe nhỏ chở hàng, không biết như vậy có
được chăng?
Kinh L ăng
Nghiêm
nói: Tâm
điên
cuồng chưa hết, hết tức thì giác ngộ.
Phật nói tất cả
đều là
lời chân thật, chúng ta chẳng nên hoài nghi.
Pháp và phi pháp, có thể
nói dù làm
đúng hết đều nên
xả bỏ, huống chi làm không
đúng, càng
nên xả bỏ.
Đời người ngắn ngủi tạm
bợ, giống như ngủ một giấc mộng, lại như cái
bọt bóng trong nước, lại như ban đêm hoa
thấm giọt sương, mặt trời lố dạng tức liền
khô; lại như điện chớp trời mưa giữa không
trung, một chớp nhoáng tức liền qua, đời
người vô cùng ngắn ngủi tạm bợ.
Sống chết có mạng, giàu
sang tại trời.
Một niệm tâm sân khởi, tr ăm
vạn cửa chướng mở.
Tự khen mình chê bai
người khác, cũng giống như Lão Vương bán dưa,
tự bán tự khoe.
Bởi vì chúng sanh có phân
biệt chấp trước, thì có thật pháp giới. Nếu
như mỗi một người tâm
địa đều thanh tịnh, vậy thì
chỉ có nhất chân pháp giới; thập pháp giới,
nhất chân pháp giới, là hai mặt của một thể.
Địa ngục âm u mù mịt,
cảnh giới
địa ngục cũng là
duy thức sở hiện.
Đệ tử Trạng Nguyên, không
hẳn xuất xứ từ thầy Trạng Nguyên.
Tu học không nên xen tạp,
nếu như xen tạp, thì giống như chão đồ ăn,
đều có đủ các thứ mùi vị; Nếu như giảng kinh
thì sẽ lẫn lộn không có qui tắc, không có hệ
thống.
Niệm Phật pháp môn là
pháp môn rất huyền diệu, nếu người phàm phu
chúng ta không chuyên tâm mà tu học, thì
không
đạt được lợi ích, huống chi là
lấy cái tâm ngã tri ngã kiến
để nghiên
cứu thảo luận, như vậy thì càng xa rời tâm
Phật, chỉ có nhất tâm niệm Phật thì mới
được thọ dụng.
Nguyện
đem
công đức này
Trang nghiêm Phật tịnh
độ
Trên
đền
bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ ba
đường
Nếu có người thấy nghe
Đều
phát tâm Bồ
Đề
Hết một báo thân này
Đồng
sanh cõi Cực Lạc
Nguồn: Chùa Quan Âm,
Queensland – Úc Châu
Ấn tống Năm 2003 ( Quý Mùi )
Ban biên tập -
đánh máy
vi tính:
www.thondida.com
Cập nhật: 28/08/2008
|
|
   |