
Mục Lục :
Quy tắc tu học - Lời Khai Thị của Ấn Quang Đại Sư
Đạo lư vận mệnh
I.
Luận về lập mệnh
II.
Vân Cốc khuyên
cải tạo vận mệnh
III.
Tu Phúc Tích Đức
Thắng Số
IV.Dạy con biết sửa lỗi, tu phúc, tích đức
Phương pháp sửa lỗi
I-
Cái nhân của
việc sửa lỗi
II-
Nền tảng của
việc sửa lỗi
1.
Ḷng xấu hổ
2.
Ḷng úy kính
3.
Ḷng dũng mănh
III- Phương pháp sửa lỗi
4.
Theo sự tướng
5.
Theo lư cải sửa
6.
Theo tâm địa
7.
Hiệu nghiệm của việc
sửa lỗi
Phương pháp tích thiện
I - Một nhà tích thiện hẳn có nhiều vui
II - Thế nào là thiện?
1. Bàn luận rơ ràng về thiện
2. Định nghĩa chữ thiện
-
Thế nào là ngay
thẳng, khuất khúc?
-
Thế nào là âm
thiện, dương thiện?
-
Thế nào là phải
và chẳng phải?
-
Thế nào là thiên
lệch và chính đáng?
-
Thế nào là đầy
và vơi ( bán và măn )?
-
Thế nào là đại
và tiểu?
-
Thế nào là khó
và dễ?
3. Tùy duyên hết sức tu thập thiện
-
Thế nào là trợ
giúp người cùng làm thiện?
-
Thế nào là giữ
ḷng kính mến người?
-
Thế nào là thành
toàn việc thiện của người?
-
Thế nào là
khuyến khích người làm thiện?
-
Thế nào là cứu
người nguy cấp?
-
Thế nào là kiến
thiết tu bổ lợi ích lớn?
-
Thế nào là xả
tài làm phúc?
-
Thế nào là giữ
ǵn bảo hộ chánh pháp?
-
Thế nào là kính
trọng tôn trưởng?
-
Thế nào là tiếc
mạng sống loài vật?
Những lợi ích của khiêm
cung
I – Măn ( tự măn ) có hại, khiêm có lợi
II – Ḷng khiêm tốn, nhún nhường , nguồn gốc của phúc

Bất luận là người tu tại gia
hay xuất gia, cần phải trên kính dưới ḥa, nhẫn nhục điều người khác khó
nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được, thay người làm
những việc cực nhọc, thành toàn cho người là việc tốt đẹp.
Khi tĩnh tọa thường nghĩ đến
điều lỗi của ḿnh. Lúc nhàn đàm đừng bàn đến điều sai trái của người.
Lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, mặc, từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, chỉ
niệm Phật hiệu không gián đoạn, hoặc niệm nho nhỏ, hoặc niệm thầm.
Ngoài việc niệm Phật, đừng dấy
khởi một niệm nào khác. Nếu khởi vọng niệm, phải tức thời bỏ ngay.
Thường có ḷng hổ thẹn và tâm sám hối. Nếu đă tu tŕ, phải tự hiểu là
công phu của ta hăy c̣n nông cạn, chẳng nên tự kiêu căng, khoa trương,
chỉ nên chăm sóc việc nhà ḿnh mà đừng nên dính vào việc nhà người. Chỉ
nên nh́n đến những h́nh dáng tốt đẹp mà đừng để mắt tới h́nh dạng xấu xa
bại hoại. Hăy coi mọi người là Bồ Tát, mà ta chỉ là kẻ phàm phu.
Nếu quả có thể tu hành được
như những điều kể trên, th́ nhất định được sinh về Tây Phương Cực Lạc
Thế Giới.
Cư sĩ Bùi Dư Long dịch.
ĐẠO
LƯ VẬN MỆNH
I– Luận về lập mệnh
1.
Khổng Tiên Sinh đoán rơ định mệnh.
Ta lúc nhỏ thân phụ mất sớm, lăo mẫu dạy
bỏ không theo cử nghiệp mà theo học nghề y, v́ học y cũng có thể mưu
sinh, có thể cứu người giúp đời mà khi y thuật tinh thông th́ được thành
danh, đó là ư nguyện sớm có của cha con vậy.
Sau đó tại chùa Từ Vân, ta gặp một lăo
nhân râu dài, tướng mạo tốt đẹp có vẻ tiên phong đạo cốt, nên ta dùng lễ
mà cung kính lăo nhân ấy. Ông bảo ta rằng: Ngươi là người trong sĩ lộ.
Năm tới tức phải nhập học, tại sao lại không theo học vậy? Ta nói rơ
nguyên cớ cho vị lăo nhân ấy nghe, và lễ phép hỏi danh tính cùng xuất xứ
của lăo nhân. Lăo nhân nói: Lăo họ Khổng, người Vân Nam. Lăo được Thiệu
Khang Tiết tiên sinh chân truyền Hoàng cực số, lăo nghĩ cũng nên truyền
cho ngươi. Ta thỉnh lăo nhân về nhà, và báo cáo với lăo mẫu th́ người
dạy phải nên tiếp đăi cho thật cẩn thận tử tế và thử xem ông ấy đoán số
ra sao, th́ thấy mọi việc lớn nhỏ ông đều đoán trúng cả.
Ta bèn có ư định theo đ̣i việc đèn sách
và bàn với biểu huynh là Thẩm Xứng th́ biểu huynh bảo: có Úc Hải Cốc
tiên sinh mở lớp dạy tại nhà ông Thẩm Hữu Phu, ta gởi ngươi tới đó trọ
học th́ rất là thuận tiện. Ta bèn bái Úc tiên sinh làm sư phụ. Khổng
tiên sinh lấy số cho ta th́ khi khảo thí ở huyện, đỗ đồng sinh đứng hạng
thứ 14, thi ở phủ đứng vào hạng thứ 71, và thi ở tỉnh do quan đề đốc học
viện làm chủ khảo th́ đỗ vào hạng thứ 9. Năm tới đi thi, th́ ở cả ba nơi
số hạng đều đúng y như thế.
Sau đó lại lấy số chung thân cho ta, dự
đoán những việc cát hung cho cả một đời và bảo rằng vào năm nào th́ được
khảo thí đứng hạng mấy, năm nào th́ được bổ khuyết lẫm sinh (tức được
cấp phát lương ăn học bằng gạo), năm nào th́ làm cống sinh, và sau khi
làm cống sinh, năm nào th́ được tuyển làm trưởng quan ở Tứ Xuyên, tại
chức sau 3 năm rưỡi th́ cáo quan về hưu. Năm 53 tuổi vào giờ sửu ngày 14
tháng tám th́ mất trên giường bệnh, tiếc rằng không con nối dơi. Ta cẩn
thận ghi lại tất cả.
Từ đó về sau, phàm mỗi khi gặp ḱ khảo
thí, danh số trước sau đều đúng như Khổng tiên sinh đă dự đoán sẵn. Chỉ
có một dự đoán là khi nào số gạo cấp lương lẫm sinh của ta được tới 91
thạch 5 đấu (1 thạch là 10 đấu) th́ lúc đó sẽ được bổ làm cống sinh,
nhưng kịp tới khi ta được lănh hơn 70 thạch th́ Đồ tông sư (quan đề học),
đă phê chuẩn cho ta được bổ làm cống sinh, duy chỉ có chỗ đó làm ta có
điểm hoài nghi.
Nhưng thực ra sau đó, sự phê chuẩn này bị
quan thự ấn họ Dương bác bỏ. Măi tới năm Đinh Măo, tông sư Ân Thu Minh
thấy bị quyển nơi trường thi của ta (quyển nộp thi đáng được chấm đậu mà
bị bỏ rớt lại) th́ than rằng: bài ngũ sách đúng là năm thiên tấu nghị,
văn chương quảng bác, ư tứ sâu sắc thông suốt của một nho sĩ sao nỡ để
cho mai một măi ru, bèn truyền cho huyện quan dâng thỉnh nguyện lên để
ông phê chuẩn cho được bổ cống sinh. Nếu tính số lượng gạo được cấp từ
trước trải qua thời gian bị bác bỏ cho tới khi được bổ th́ thực đúng là
91 thạch 5 đấu vậy.
Nhân thế, ta càng tin rằng sự tiến thoái,
thăng trầm nhanh hay chậm đều có thời, có số cả, nên an nhiên tự tại
chẳng cần mong cầu sự ǵ cả. Sau khi được bổ cống sinh, ta phải đi Yến
Đô (tức Bắc Kinh), ở lại kinh đô một năm, suốt ngày tĩnh tọa mà không
màng tới việc đèn sách.
II–
Vân Cốc khuyên cải tạo vận mệnh
1.
Nguyên lư của việc cải tạo
Năm Kỷ Tỵ, ta quay trở về , du ngoạn qua
Nam Ung tức Quốc Tử Giám ở Nam Kinh, nhưng trước khi nhập giám, ta tới
bái phỏng Vân Cốc Pháp Hội thiền sư ở Thê Hà Sơn, cùng thiền sư đối diện
trong một thất, tĩnh tọa ba ngày đêm chẳng nhắm mắt. Thiền sư hỏi ta: Sở
dĩ người phàm không làm được thánh nhân chỉ v́ bị nhiều vọng niệm vương
vấn bao quanh che lấp mất tâm thanh tịnh mà thôi. Nhà ngươi tọa thiền ba
ngày không thấy khởi một vọng niệm nào là v́ sao vậy? Ta đáp rằng: Khổng
tiên sinh đă lấy số chung thân cho ta, sự vinh nhục sinh tử đều do số đă
định sẵn cả, nên dù có vọng tưởng hoặc mưu cầu điều chi cũng vô ích mà
thôi , nên không khởi vọng tưởng nữa.
Thiền sư cười mà nói rằng: Ta tưởng ngươi
là một hào kiệt, nào ngờ ngươi vốn cũng chỉ là phàm phu mà thôi. Ta hỏi
lí do tại sao thiền sư lại nói như vậy th́ thiền sư bảo rằng: Phàm là
con người nếu c̣n chưa được vô tâm, tức tâm c̣n vọng tưởng chưa được
thanh tịnh th́ chung cuộc vẫn bị ràng buộc bởi âm dương khí số, mà đă bị
ràng buộc bởi âm dương khí số th́ làm sao nói là không có số được? Tuy
nhiên, chỉ người phàm là có số. Những người làm việc cực thiện cũng như
cực ác không bị số mệnh câu thúc măi, bởi làm nhiều điều thiện có thể
đương nghèo hóa giàu, c̣n trái lại làm nhiều điều cực ác có thể đương
giàu sang phú quư trở thành nghèo hèn. Nhà ngươi 20 năm nay, cứ theo lời
đoán của Khổng tiên sinh mà bị số mệnh câu thúc không hề thay đổi một
chút nào th́ như thế chẳng gọi là phàm phu th́ là ǵ?
Ta hỏi ngay rằng: Vậy th́ có thể tránh
khỏi số mệnh được sao? Thiền sư đáp: Mệnh do chính ḿnh tạo và phúc cũng
do tự ḿnh cầu được. Kinh Thư đă nói làm lành được phúc, làm ác bị giảm
phúc, thực rơ ràng đúng là những lời minh huấn. Trong kinh Phật có nói
cầu phú quư được phú quư, cầu nam nữ được nam nữ, cầu trường thọ được
trường thọ. Này, vọng ngữ là điều đại giới của đức Thích Ca; chư Phật,
Bồ Tát há lại nói dối trá, lừa người ư?
Ta hỏi thêm rằng: Mạnh phu tử nói những
điều ḿnh cầu mong mà có thể đạt được là do chính ở nội tâm ḿnh nghĩ đủ
sức làm được như vậy, thí dụ như muốn trở thành một người có đạo đức,
nhân nghĩa th́ tận tâm, tận lực tu tập th́ sẽ được, c̣n như công danh
phú quư là những điều ở ngoài thân tâm ḿnh th́ làm sao mà cầu được?
Vân Cốc thiền sư nói: Lời của Mạnh phu tử
không hề sai, chính tự ngươi không hiểu hết ư nghĩa mà thôi. Ngươi chẳng
thấy Lục Tổ đă nói là tất cả phúc điền đều không rời tâm địa của con
người, từ nơi tâm ḿnh mà t́m cầu th́ mọi sự đều được cảm ứng. T́m cầu ở
ngay nội tâm của ḿnh th́ không những chỉ được đạo đức, nhân nghĩa mà
công danh, phú quư cũng được nữa, đó là nội ngoại song đắc, trong nội
tâm cũng như ở ngoài thân tâm đều cùng được cả bởi lẽ khi ḿnh đă là
người có đạo đức, nhân nghĩa th́ người đời sẽ trọng vọng ḿnh, công danh,
phú quư không cầu cũng tự nhiên được; chỗ hữu ích của việc t́m cầu là
đạt được sự việc vậy.
Nếu không biết hướng về nội tâm, mà chỉ
mưu đồ hướng ngoại t́m th́ thật không hợp đạo lư mà chỉ được những điều
định mệnh đă an bài. Số mệnh đă định th́ chẳng phải phí công phí sức, dù
cầu hay không, tự nhiên rồi sẽ có. Ngược lại số không có, lại không biết
phương pháp hướng nội tâm cầu th́ dù có trăm phương ngàn kế mưu đồ cũng
không được ǵ cả, chỉ mất công vô ích mà thôi, v́ ở trong th́ tâm trí
thao thức không yên, ngoài th́ chẳng được ǵ cả, đó là nội ngoại song
thất.
2.
Phương pháp cải tạo vận mệnh
a)
Biết lỗi thực sự phản tỉnh
Nhân đấy thiền sư lại hỏi ta: Khổng tiên
sinh lấy số chung thân cho nhà ngươi ra sao? Ta cứ thực sự tŕnh bày rơ
ràng th́ Vân Cốc thiền sư hỏi: Ngươi tự lượng xét ḿnh xem có nên thành
công trên đường khoa cử hay không? Có nên có con nối dơi hay không ? Ta
tự xét ḿnh khá lâu rồi đáp: Thực không nên vậy. Những người thành công
trên đường khoa bảng như tiến sĩ, bảng nhăn, thám hoa, đều là những
người có phúc tướng, tại hạ phúc bạc lại không biết tích lũy công đức,
hành thiện để bồi đắp nền tảng của việc đạt được phúc dày, hơn nữa lại
không biết nhẫn những sự phiền toái vụn vặt, không có độ lượng rộng răi
bao dung người, có lúc lại ỷ ḿnh tài trí hơn người, thường làm ngay nói
thẳng, hay vọng đàm nên ngôn ngữ không được thận trọng. Phàm những điều
như thế đều là bạc phúc, há c̣n dám nghĩ đến việc khoa bảng ru!
Chỗ đất ô uế, ẩm ướt thường hay sinh vật,
c̣n chỗ nước trong vắt th́ không có cá mà tại hạ lại có tật ưa thích sự
tinh khiết sạch sẽ, đó là một điều thứ nhất không nên có con vậy. Ḥa
khí tức phong vũ thuận ḥa, thời tiết thuận tiện, vạn vật dễ sinh trưởng,
mà tại hạ th́ hay nóng giận, đó là điều thứ hai không nên có con. Ái tức
là ḷng nhân ái, tâm từ bi là căn bản của sự sinh trưởng, v́ nhân sinh
quả, quả lại sinh nhân, cứ thế mà sinh sinh măi măi, c̣n nhẫn tâm không
phải là gốc rễ của sự sinh dưỡng, tại hạ trọng thanh danh tiết tháo,
thường không biết xả thân cứu người, đó là điều thứ ba không nên có con.
Hay nhiều lời mất khí lực cũng là điều thứ tư không nên có con; uống
rượi nhiều, tinh thần suy nhược là điều thứ năm không nên có con; thường
hay ngồi suốt đêm không biết bảo tồn nguyên khí, dưỡng dục nguyên thần
là điều thứ sáu không nên có con vậy. Ngoài ra, c̣n nhiều thói hư tật
xấu khác kể ra không hết.
Thiền sư Vân Cốc bèn nói: Há chỉ có khoa
bảng là nhà ngươi không muốn hay sao! Người đời được hưởng thụ tài sản
thiên kim hay bách kim là số mệnh đă định cho họ thành đại phú hay trung
phú, c̣n người bị chết đói cũng là do quả báo định vậy; thiên thượng chỉ
phụ họa vào theo số phận của họ, chứ chẳng có một ly một chút ư tứ nào
thêm thắt vào cả. Nói về việc sinh con nối dơi th́ người tích lũy trăm
đời công đức hay người tích đức mười đời, con cháu họ trăm đời sau hay
mười đời sau sẽ tiếp tục ǵn giữ hưởng phúc, c̣n những người chỉ có phúc
ba đời hay hai đời, con cháu ba đời hay hai đời của họ sẽ được hưởng
phúc đó. Những người phúc quá bạc th́ bị vô hậu, không con nối dơi, ḍng
giống bị đứt đoạn.
b)
Việc triệt để sửa lỗi
Nay ngươi đă thấy vấn đề ở đâu
th́ phải hết ḷng sửa lại những nguyên nhân làm cho không đậu tiến sĩ
cũng như không con nối dơi. Tất cả
những việc về trước coi như đă xóa bỏ hết, coi như ngày hôm qua ḿnh đă
chết, và từ ngày hôm nay về sau, xem như được tái sinh, nếu phúc bạc th́
cần phải tu nhân tích đức, hành thiện cần phải có ḷng nhân hậu độ lượng
bao dung người, cần phải cư xử ḥa thuận, kính ái người và cần phải biết
tồn dưỡng nguyên khí tinh thần. Đó là nghĩa lư của thân tái sanh vậy.
Cái thân máu mủ huyết nhục của chúng ta
hẳn nhiên đă có số nhất định, c̣n đă biết sửa đổi lỗi lầm, đă được giác
ngộ, tâm được thanh tịnh th́ thâm nghĩa lư ấy há không cùng thượng thiên
cảm ứng, tương thông hay sao! Thiên Thái Giáp trong kinh Thư có nói:
Thượng thiện tác ḥa, bởi tiền nhân nay chịu hậu quả th́ c̣n có thể
tránh được, chứ tự ḿnh gây ra những điều oan nghiệt, những điều ác th́
phải tự gánh chịu ác báo, không thể sinh sống an lành, yên ổn được. Kinh
Thi có nói: Con người phải luôn luôn tự xét lấy ḿnh mà ăn ở, cư xử sao
cho hợp thiện đạo, làm lành lánh dữ ắt hẳn phải được thiện báo. Đó là tự
ḿnh biết cầu được nhiều phúc. Khổng tiên sinh đoán là ngươi không có số
khoa bảng, không con nối dơi, đó là cái oan nghiệt đă định sẵn từ trước,
do vậy có thể tránh được.
Nay ngươi nên đem cái thiên tính đạo đức
trời đă phú cho mọi người, khai mở thật rộng răi, chí tâm tận lực hành
thiện, tích lũy âm đức, đó là tự ḿnh tạo lấy phúc cho ḿnh th́ sao lại
không được báo đáp, thụ hưởng ư?
Kinh Dịch thường luận bàn việc lấy nhân
đạo phối hợp thiên đạo để cảnh giác con người cẩn thận tránh làm những
sự bại hoại, đă v́ người quân tử có nhân nghĩa đạo đức mà định rằng
người ta cần xu hướng về đường thiện, xa lánh ác đạo hung hiểm. Nếu cho
rằng số mệnh là hữu thường không thể biến cải được th́ sao lại cần xu
cát tị hung? Chương mở đầu của Kinh Dịch nói rằng một nhà mà tích đức
hành thiện ắt có nhiều sự hỷ khánh, có phúc được hưởng thụ dài lâu.
Theo Kinh Dịch th́ số mệnh có thể biến
cải miễn là biết làm nhiều điều lành và tránh ác. Ngươi có tin thực như
vậy không?
III– Tu phúc tích đức thắng
số
Ta tin những lời chỉ dẫn của thiền sư và
làm lễ thụ giáo. Nhân đó, trước bàn thờ Phật , thành tâm phát lồ sám hối
tất cả những điều lầm lỗi, tội ác đă làm từ trước đến nay, nguyện sau
này sẽ không phạm phải nữa, lại dâng sớ nguyện làm ba ngàn điều thiện,
trước cầu được đăng khoa để đền đáp ân đức của trời đất và tổ tông.
Vân Cốc thiền sư chỉ dẫn cho ta cách thức
lập một cuốn sổ ghi công và tội, dặn ta hàng ngày phải ghi thật rơ ràng
những điều ḿnh đă làm, dù thiện hay ác đều phải ghi lại, thiện ghi bên
cột thiện, và ác ghi vào cột ác để so sánh xem thiện nhiều hay ác nhiều
mà tu sửa, ngoài ra lại bảo ta nên niệm chú Chuẩn Đề nhờ Phật gia bị th́
những điều cầu nguyện ắt sẽ được ứng nghiệm.
Thiền sư c̣n bảo ta những người chuyên vẽ
bùa chú thường nói nếu không được mật truyền th́ họa bùa không linh ắt
bị quỷ thần cười chê. Chỗ bí quyết đó là khi cất bút họa, trước hết phải
dứt bỏ hết mọi sự trần duyên không được khởi một ư niệm nào để cho tâm
thực thanh tịnh rồi mới bắt đầu đặt bút họa một điểm gọi là hỗn độn khai
cơ, rồi cứ tự nhiên vô tư lự tiếp tục huy bút từng điểm, từng điểm một
họa thành lá bùa, như vậy th́ bùa mới được linh nghiệm. Phàm muốn cầu
lập mệnh đều cần phải giữ tâm cho được thanh tịnh không chút loạn tưởng
vọng niệm, kính cẩn cầu nguyện th́ mới được cảm thông linh ứng.
Bàn về việc lập mệnh, Mạnh phu tử trong
thiên Tận Tâm có viết: Yểu và thọ chỉ là một chẳng phải hai, tức thọ yểu
chẳng có khác nhau, mà nếu phân biệt cho thọ yểu là hai, th́ khi không
khởi một động niệm nào, tựa như lúc con người mới sinh chưa có ư niệm ǵ,
chưa có tâm phân biệt th́ đâu biết thế nào là yểu, là thọ. Xét cho cùng
về việc lập mệnh th́ phong và khiêm (tức được mùa mất mùa, ư nói giàu
nghèo), cùng và thông, thọ và yểu đều chẳng phải là hai, chẳng khác nhau,
th́ nhiên hậu mới nên lập các mệnh bần phú, quư tiện, sinh và tử, bởi lẽ
số thọ mà làm những điều bất nhân, thất đức th́ thọ sẽ bị giảm thành yểu
và trái lại số yểu mà biết tu nhân tích đức th́ được tăng thọ.
Con người ta ở thế gian lấy việc thọ yểu,
sống chết làm tối quan trọng, nên chỉ nói tới yểu thọ để mà bao gồm cả
các sự thuận nghịch khác như phong khiêm, cùng và thông vậy.
Cho đến việc tu thân phải biết chờ đợi,
không phải chỉ ngày một ngày hai mà vận mệnh được cải tạo ngay mà cần có
thời gian để cố gắng tinh tiến tu hành, tích công lũy đức, thành tâm
nguyện cầu th́ sự việc mới có hiệu quả.
Nói tu thân là bao gồm cả tâm lẫn ư, nếu
trong quá khứ có nhiều hành động bại hoại, ư tưởng xấu xa th́ phải trừ
bỏ ngay, c̣n nói tới chờ đợi th́ cứ một mực tu nhân tích đức chẳng nên
loạn tưởng nghĩ tới nghĩ lui hay nhen nhúm một chút hi vọng nhỏ nhoi nào
trong thân tâm mà hóa ra vọng niệm, cần phải diệt bỏ ngay. Đạt được mức
độ đó có thể nói là đă tới chỗ tự tính biểu lộ, tâm thực thanh tịnh
không chút động niệm của cảnh giới tiên thiên, đó là chân chính thực học.
Người c̣n chưa đạt được vô tâm, chưa được
nhất tâm bất loạn, c̣n chấp trước vọng niệm, chỉ nên tŕ chú Chuẩn Đề,
liên tục niệm đừng để gián đoạn, cũng không cần đếm số, niệm sao cho
được thuần thục, niệm mà hóa không niệm, tự ḿnh cũng không hay là ḿnh
đang niệm chú nữa, đến chỗ không khởi một niệm đầu nào cả th́ mới linh
ứng.
Tên hiệu của ta trước là Học Hải, ngay
ngày đó đổi lại là Liễu Phàm, bởi sau khi hiểu biết đạo lư của việc lập
mệnh, ta muốn dứt bỏ các kiến giải phàm tục, lột bỏ lớp vỏ phàm phu đi.
Từ đó trở đi ta suốt ngày để ư cẩn thận đề cao cảnh giác không giống như
trước kia chỉ hồ đồ tùy tiện phóng túng, ngày lại qua ngày mê hoặc không
biết tự kiềm chế giác ngộ. Đến nay sau khi hiểu biết rằng vận mệnh có
thể cải biến được, tự nhiên ta có cảm giác dè dặt úy kính, ở nơi pḥng
tối chẳng ai hay ta cũng thường sợ đắc tội với thiên địa quỷ thần hằng
xuất hiện ở nơi chái phía Tây Bắc, và có ai oán ghét ta, muốn hủy báng
ta, ta cứ điềm nhiên dung thứ, chịu đựng, bỏ qua chẳng hề để ư tới.
Đến năm sau, bộ Lễ mở kỳ khảo thí, Khổng
tiên sinh đoán ta được xếp vào hàng thứ ba nào dè ở nơi trường thi mùa
thu ấy, ta trúng cử đệ nhất hạng, lời đoán của Khổng tiên sinh đă không
được ứng nghiệm. Tuy nhiên, ta tự kiểm thảo thấy sự thi hành các việc
đạo nghĩa chưa được thuần thục tự nhiên, mà c̣n nhiều sai trái khuyết
điểm; hoặc khi thấy việc thiện mà không mạnh dạn làm ngay, hoặc muốn cứu
giúp người mà trong tâm thường ngần ngại không quyết định nên hay không
nên giúp; hoặc thân muốn gắng sức làm điều thiện mà miệng c̣n nhiều lời
nói đến sự lỗi lầm của người làm họ bất măn để bụng; hoặc lúc tỉnh th́
hăng hái, nhưng khi say lại phóng túng không tự chủ được, v́ vậy sợ rằng
việc thiện làm ra không đủ bù đắp lại lỗi lầm, và ngày lại ngày để thời
gian trôi qua một cách uổng phí.
Từ lúc ta phát nguyện vào năm Kỷ Tị cho
măi tới năm Kỷ Măo, mười năm có dư thời ba ngàn điều thiện mới làm xong.
Lúc đó ta cùng Lư Tiệm Ấn tiên sinh từ quận ngoại nhập nội chưa kịp đem
công đức trên hồi hướng. Sang năm sau là năm Canh Th́n từ Kinh trở về
phương nam, mới thỉnh Tính Không và Huệ Không, hai vị pháp sư làm lễ hồi
hướng tại Đông tháp thiền đường. Sau đó bèn phát nguyện cầu sinh con và
cũng hứa làm ba ngàn điều thiện. Năm Tân Tị sinh con tên là Thiên Khởi.
Mỗi khi ta làm một việc ǵ th́ tùy tiện
lấy bút ghi lại, mẹ con không biết viết th́ khi làm điều ǵ bèn liền đó
lấy bút lông ngỗng khuyên một ṿng son vào tờ lịch của ngày hôm đó; hoặc
có khi thí thực cho người nghèo, hoặc là mua phóng sinh, mỗi ngày kể có
hơn mười khuyên. Đến tháng tám năm Quư Mùi, số ba ngàn điều thiện đă làm
đầy đủ, lại thỉnh các vị Tính Không tề tựu tại gia làm lễ hồi hướng công
đức. Vào ngày 13 tháng chín cùng năm, ta lại bắt đầu phát nguyện cầu đỗ
tiến sĩ và hứa làm mười ngàn điều thiện. Năm Bính Tuất th́ trúng cử và
được bổ làm tri huyện huyện Bảo Đề.
Khi nhậm chức ở huyện, ta dự bị làm sẵn
một cuốn sổ nhỏ có nhiều ô vuông trống gọi là một thiên trị tâm, mục
đích để sửa các điều lỗi lầm mà tu tâm. Mỗi buổi sáng khi bắt đầu thăng
đường th́ gia nhân mang sổ ra cho nha dịch để lên án thư, ta tỉ mỉ ghi
lại các điều thiện hay ác trong khi xử án, hoặc xử lư công việc ở huyện.
Buổi chiều tối thiết lập bàn hương án ở ngay sân huyện và noi gương ngự
sử Triệu Duyệt Đạo, ta đem tất cả các việc làm hàng ngày dâng hương cáo
tŕnh thượng thiên, và nếu có điều sai trái, lầm lỗi th́ thành tâm phát
lồ sám hối.
Mẹ con thấy làm được ít điều quá, thời
chau mày lo lắng mà nói rằng: Trước đây ở nhà, thiếp c̣n có thể giúp
được nên v́ vậy mà số ba ngàn điều thiện phát nguyện mới chóng hoàn
thành. Nay ở trong nha, thiếp không giúp được ǵ cả mà lại nguyện làm
những một vạn điều , th́ biết đến bao giờ mới được viên măn.
Đêm hôm đó, ta bỗng nằm mộng thấy một vị
thần nhân, bèn tŕnh bày duyên cớ khó làm xong 10 ngàn điều thiện đă
nguyện hứa, th́ thần nhân bảo chỉ cần một việc giảm tiền thuế là vạn sự
sẽ hoàn thành đầy đủ.
Ta thấy ruộng ở Bảo Đề này mỗi mẫu nạp tô
hai phân ba ly bảy hào th́ quá cao, nên nghĩ có thể xin giảm xuống tới
một phân bốn ly sáu hào; thiết tưởng việc này có thể thi hành được,
nhưng trong ḷng c̣n hoang mang hồ nghi không hiểu thần minh có thấu rơ
việc ta xin giảm tô hay không, và làm sao chỉ làm một điều thiện lại có
thể tương đương với vạn điều được, th́ vừa may có thiền sư Thích Huyền
Dư từ Ngũ Đài Sơn tới, ta đem những lời thần nhân báo mộng hỏi thiền sư
có thể tin được như thế không?
Thiền sư bảo làm việc thiện mà tâm khẩn
thiết chí thành th́ một điều có thể sánh bằng vạn điều, huống hồ lại
giảm tô cho cả một huyện, toàn dân đều được hưởng ân huệ th́ một điều đó
cũng đáng bằng 10 ngàn điều vậy.
Ta bèn quyên góp lương bổng để thiền sư
trở về Ngũ Đài Sơn trai tăng một vạn người và đem công đức ấy hồi hướng
hộ cho. Khổng tiên sinh đoán là năm 53 tuổi ta gặp tai ách, ta chưa từng
cầu xin tăng thọ, mà năm đó lại vô sự, và nay th́ ta đă 68 tuổi rồi.
Kinh Thư có nói thiên mệnh hay định mệnh
khó tin, mệnh con người ta chẳng nhất định phải cứ thường như thế măi,
lại nói mệnh trời th́ vô thường không ở măi với một ai cả, những lời
trên đâu phải dối trá.
IV– Dạy con
biết sửa lỗi, tu phúc, tích đức
Ta nhân đó mà hiểu rằng họa phúc là tự
ḿnh chuốc lấy, làm lành gặp lành, làm ác gặp ác, các vị thánh hiền đều
đă dạy như thế. Nếu nói rằng họa phúc là do mệnh trời định, th́ đó là
bàn luận của thế nhân vậy.
Mệnh của con chưa ai đoán nên không biết
thế nào, nhưng nên hiểu rằng như mệnh ḿnh gặp lúc vinh hiển, thường
phải nghĩ tới lúc hàn vi chưa được đắc ư; khi gặp được sự thuận lợi,
thường phải nghĩ tới lúc gặp nghịch cảnh khó khăn; khi trước mắt có đủ
ăn, thường phải nghĩ tới lúc nghèo nàn; khi được người kính nể, thường
phải có ư e dè sợ sệt; khi gia thế được người trọng vọng, thường phải
nghĩ tới lúc ḿnh c̣n ty tiện, thấp kém; khi học vấn có phần cao, thường
phải nghĩ tới lúc ḿnh c̣n nông cạn, ngu dốt.
Nghĩ tới việc xa th́ phải nêu cao cái đức
của tổ tông, nghĩ gần th́ phải đền bồi lỗi lầm cho cha mẹ nếu có; trên
th́ nghĩ tới việc báo ân tổ quốc, dưới th́ nghĩ tới việc tạo phúc cho
gia đ́nh, bên ngoài th́ nghĩ tới việc cứu người khi cần cấp, bên trong
th́ đề pḥng khắc phục tà kiến của ḿnh.
Ngày ngày cần phải xét biết lỗi để ngày
ngày cải sửa. Một ngày mà không biết xét chỗ sai trái của ḿnh là ngày
đó ḿnh đă an nhiên tự thị, yên chí tự coi ḿnh là đúng. Một ngày mà
không có lỗi nào để sửa là ngày đó không có một chút tiến bộ nào cả.
Trong thiên hạ không thiếu ǵ người thông
minh tài trí, nhưng lại không biết tu cho đức được tăng, không biết mở
mang sự nghiệp cho ngày một thêm rộng lớn, chỉ biết an vui phóng dật
chẳng chịu cải sửa, bỏ phí cả một đời.
Thuyết lập mệnh do Vân Cốc thiền sư chỉ
dạy là một đạo lư thực chân chánh, thực tinh vi thâm thúy, con phải gắng
công, gắng sức nghiên cứu cho kĩ rồi theo đó mà thi hành, chớ để thời
gian trôi qua một cách vô ích.
PHƯƠNG
PHÁP SỬA LỖI
I– Cái nhân của
việc sửa lỗi
Vào thời đại Xuân Thu, các quan chức của
nhiều nước chư hầu thường có sự lai văng giao hảo, khi thấy cử chỉ, hành
động, ngôn ngữ của một người nào, hoặc là lời khinh bạc, hoặc thái độ ôn
ḥa nhân hậu, họ có thể đàm luận về số phận của con người đó sẽ gặp họa
hay phúc và lời suy đoán của họ không phải là không ứng nghiệm. Những sự
t́nh như vậy đều có ghi rơ trong các sách sử như Tả truyện hay Quốc ngữ
mà ta có thể đọc biết được.
Đại để những dự triệu biết trước các việc
cát hung đă nẩy mầm ngay ở nơi tâm khi dấy khởi động niệm và phát xuất
ra ngoài tứ chi, như người có cử chỉ hành động nhân hậu đạo đức thường
được phúc, trái lại người có hành vi khắc bạc chỉ tham đồ cho riêng ḿnh
thường gặp họa. Người trần con mắt phàm nhăn quang bị che lấp nên không
thấy được mà cho rằng họa phúc chưa nhất định h́nh thành th́ không thể
suy đoán trước được.
Một người có ḷng chí cực thành thật là
tương hợp với ḷng trời, nên chỉ cần quan sát xem họ làm những điều
thiện hay bất thiện th́ đủ biết trước được là họ sẽ gặp phúc hay họa
tới.
II– Nền tảng của
việc sửa lỗi
1.
Ḷng xấu hổ
Ngày nay, muốn được phúc mà tránh xa các
tai họa, chưa vội bàn tới việc làm lành, trước hăy nên cần sửa lỗi đă.
Người muốn sửa lỗi, điều thứ nhất cần phải biết tri sỉ, biết tự hổ thẹn.
Nên biết rằng các bậc thánh hiền xưa cũng là người như ta mà sao có thể
nêu gương sáng hàng trăm đời, ta sao lại chịu thân tàn hủ bại. Đó là tự
ḿnh đắm say ngũ dục lục trần, nhiễm phải nhiều thói xấu, làm nhiều điều
bất nghĩa mà cho là người đời không hay, không biết nên cao ngạo, ngang
nhiên chẳng chút hổ thẹn, ngày một ngày càng sa đọa vào ṿng cầm thú mà
chẳng tự biết.
Ở đời chẳng có điều ǵ lớn hơn là biết tự
sỉ, biết tự hổ thẹn. Thầy Mạnh Tử nói: Ḷng biết hổ thẹn ở nơi con người
là một điều lớn lao vậy, có được tâm sỉ ắt thành thánh hiền, không có
tâm sỉ ắt chỉ là cầm thú, súc sanh mà thôi. Đó là chỗ căn bản quan hệ
của việc sửa lỗi.
2.
Ḷng úy kính
Điều thứ hai là cần phải phát ḷng úy
kính, e dè sợ sệt. Thiên địa quỷ thần khó mà có thể khi dễ, lỗi của
chúng ta tuy ẩn nhẹm, kín đáo người đời không biết mà thiên địa quỷ thần
đều có thể soi xét thấu rơ, nặng ắt sẽ giáng trăm điều tai ương, nhẹ ắt
sẽ giảm phúc được hưởng. Chúng ta há chẳng đáng nên sợ hay sao!
Không những chỉ có vậy, ở những nơi thanh
nhàn vắng vẻ chỉ riêng có độc một thân một ḿnh cũng đều là bị quỷ thần
giám sát, che đậy thật khéo mà thần minh cũng đă sớm thấu rơ đến tận gan
phổi của ḿnh, vậy nên khó mà có thể tự lừa dối lấy ḿnh măi măi được;
một khi bị người đời phát hiện sự dối trá che đậy giấu nhẹm của ḿnh th́
lúc đó thân phận ḿnh chẳng đáng giá lấy một đồng xu. Vậy há không nên e
dè úy kính hay sao!
Không những chỉ như vậy, khi hăy c̣n một
hơi thở, các tội ác đều có thể sám hối cải sửa. Người xưa một đời làm
ác, lúc gần ĺa đất xa trời, phát một niệm thiện, thành tâm hối lỗi, bèn
được an lành từ giă cơi đời, nên nói là chỉ một niệm dũng mănh thật chí
thành đủ để tẩy sạch được trăm năm tội ác, cũng tỷ như một hang cốc tối
tăm hàng ngàn năm bỗng có một ngọn đèn chiếu rọi tới th́ ngàn năm tăm
tối đó đều bị tiêu trừ, cho nên không cần biết là tội đă phạm từ lâu
nay, hay mới phạm gần đây, chỉ có phát tâm cải sửa mới là điều quư.
Bất quá cơi trần là vô thường không nhất
định, thân huyết nhục dễ bị hủy hoại , nếu cứ cho là làm lỗi có thể sửa
được mà chẳng chịu sửa ngay, một khi hơi tàn thở hắt ra rồi lúc đó mới
muốn sửa th́ chẳng c̣n kịp nữa. Ở dương thế mang lấy tội danh từ trăm
năm, ngàn năm trước, tuy có con hiếu cháu hiền cũng không v́ ḿnh mà rửa
sạch được; ở cơi âm th́ bị quả báo sa địa ngục hàng trăm ngàn kiếp, dù
cho có thánh hiền, có Phật, Bồ Tát cũng không cứu giúp, dẫn độ được. Vậy
há chẳng e dè sợ sệt hay sao!
3.
Ḷng dũng mănh
Thứ ba, phải phát tâm dũng. Nhiều người
không chịu sửa lỗi, đa số là v́ phóng túng biết lỗi đấy mà bỏ đấy nên bị
thoái hậu, thụt đầu lùi lại không đường tiến. Chúng ta cần phải phấn
khởi, dũng mănh dụng công cải sửa ngay lấy ḿnh không chờ đợi, không trù
trừ hoài nghi nữa.
Lỗi nhỏ ví như cái gai đâm vào thịt phải
mau chóng rút bỏ ra. Lỗi lớn tựa như rắn độc cắn vào ngón tay, cần phải
quyết tâm chặt bỏ ngay không chút ngần ngừ do dự. Người mà nhất quyết
sửa lỗi lầm để tự canh tân thật rất hữu ích cũng như gặp được quẻ phong
lôi trong Kinh Dịch, một quẻ đại cát vậy.
Có đầy đủ ba tâm, tâm tri sỉ, tâm úy
kính, và tâm dũng mănh, ắt lỗi lầm đều cải sửa được ngay cũng như băng
tuyết mùa xuân gặp mặt trời, vậy há lo ǵ mà tội lỗi chẳng tiêu tan.
III – Phương pháp
sửa lỗi
1.Theo sự tướng
Tuy nhiên tội lỗi của người ta có thể
theo sự tướng mà cải sửa, hoặc theo lư hay theo tâm. Cách dụng công
không giống nhau th́ hiệu quả cũng không tương đồng. Như hôm trước phạm
lỗi sát sinh, hôm sau giữ giới không sát sinh nữa, như hôm trước nóng
giận mắng chửi, hôm nay giữ giới không nóng giận nữa. Những sự việc như
thế gọi là theo sự thực xảy ra mà cải sửa vậy.
Ngày nay phạm lỗi, ngày mai cố sửa, cứ
theo sự việc xảy ra ở bên ngoài mà miễn cưỡng kiềm chế lấy ḿnh để khỏi
phạm nữa, thực là trăm phần khó v́ chung cục bệnh căn vẫn tồn tại, bởi
nay ở bên đông hết tội, mai tội lại nẩy sinh ra ở bên tây, cứu cánh
không phải là đường lối hợp đạo lư, không trừ sạch được hết tội lỗi.
2.Theo lư cải sửa
Người khéo sửa lỗi ḿnh th́ khi c̣n chưa
phạm cấm giới, trước hết hăy nên biết rành rẽ đạo lư đă; như tội lỗi ở
chỗ sát sinh th́ nên tự nghĩ rằng thượng đế hiếu sinh, chúng vật đều
luyến ái mạng sống, giết chúng để nuôi dưỡng thân ḿnh th́ sao ta có thể
đang tâm; vả lại khi giết chúng, nào là chặt cắt, mổ xẻ cho vào chảo,
vào nồi nấu nướng, chúng phải chịu bao nhiêu nỗi thống khổ đau đớn thấu
nhập cốt tủy. Chúng ta sát hại chúng để nuôi dưỡng ḿnh, để có la liệt
những thứ cao lương mỹ vị miếng ngon vật quư, nhưng khi nuốt trôi khỏi
cổ rồi th́ giống như không, chẳng có ǵ nữa. Mà dùng rau đậu, canh dưa
cũng đủ no đầy bụng, hà tất phải sát hại mạng sống của chúng vật mang
lấy tội sát sinh làm tổn phúc của ḿnh nữa.
Hơn nữa, những vật thuộc loại có huyết
khí đều có linh tính, tri giác, mà đă có linh tính tri giác th́ chúng
cũng đồng một thể, cũng giống y như chúng ta; vả lại chúng ta chưa tự tu
được đến mức độ đạo đức thực cao làm cho chúng thân cận ta, tôn trọng
ta, há lại hàng ngày sát hại sinh mạnh chúng vật để chúng măi măi thù
oán, cừu hận chúng ta. Nghĩ như vậy th́ đối với miếng ăn thực cũng đau
ḷng mà khó nuốt trôi.
Như hôm trước nổi sân cáu giận, ắt nên
nghĩ rằng con người không phải thánh nhân, c̣n có nhiều khuyết điểm lỗi
lầm, theo đạo lư mà nói, thực t́nh đáng nên thương hại; nếu họ phạm nỗi
sai quấy là do tự họ không hiểu đạo lư chẳng can dự ǵ đến ta, bản tâm
vốn thanh tịnh không chấp trước th́ hà tất phải nổi sân.
Lại nữa nên nghĩ rằng trong thiên hạ chắc
không ai lại tự nhận ḿnh là thánh hiền, hào kiệt chẳng có chỗ nào sai
trái, và cũng không có cái học nào dạy ta oán ghét người, v́ người có
học vấn, trí thức không oán trời trách người, ḿnh làm chưa đến nơi đến
chốn, việc chưa thành tựu đều do tự ḿnh chưa dày công tu phúc, tu đức
nên chưa được cảm thông. Chúng ta nên tự phản tỉnh, tự xét lại ḿnh, nếu
có những điều phỉ báng, phê b́nh điều kia tiếng nọ th́ nên coi đó là
những lời chỉ dạy để ḿnh rèn luyện mài dũa tâm trí, tu tập cho đạt được
thành quả, nên hoan hỷ nhận, hà tất phải phát sân phát hận.
Nếu nghe những lời phỉ báng mà nổi giận
tranh căi với người, dù có muốn dùng hết sức biện bác th́ trong cơn nóng
giận ắt những lời biện luận chẳng được rơ ràng minh bạch, giống như con
tằm về mùa xuân kéo kén tự ràng buộc lấy ḿnh, tự làm khổ ḿnh. Sự nóng
giận chẳng những vô ích mà c̣n có hại nữa.
Ngoài việc sân nộ ra, tất cả những lỗi
phạm khác cũng đều cứ y theo đạo lư mà xử sự như vậy. Một khi đạo lư đă
sáng tỏ, lỗi phạm sẽ tự đ́nh chỉ.
3.Theo tâm địa
Thế nào gọi là theo tâm mà sửa lỗi? Lỗi
lầm có thiên h́nh vạn trạng, chỉ do ở nơi tâm mà tạo ra. Tâm chúng ta
chẳng động niệm th́ lỗi sao có thể nảy sinh. Người học sửa lỗi lầm như
háo danh, háo sắc, tham tài, tham lợi, hoặc hay phát sân nộ…, có quá
nhiều tội lỗi bất tất phải phân biệt từng loại một để mà sửa trị, chỉ
cần một ḷng một dạ thành tâm nghĩ điều lành, làm điều thiện, khi đă có
chính niệm phát hiện th́ tà niệm tự nhiên bị ô nhiễm rồi bị tiêu diệt.
Ví như mặt trời xuất hiện ở trên không th́ yêu ma, quỷ quái phải t́m
đường lẩn trốn chẳng dám ló dạng. Đây là chỗ chân truyền tinh vi vậy.
Tội lỗi do tâm tạo ra th́ lại do tâm cải sửa, cũng như chặt một cây độc
thụ ắt phải chặt ngay từ gốc rễ, há lại đi cắt từng cành, ngắt một chiếc
lá một hay sao!
Nói chung th́ có thể theo sự tướng, theo
lư và theo tâm để tu sửa tội lỗi, nhưng phương pháp theo tâm là tốt hơn
cả; tâm đă tu, đă được sửa trị th́ sẽ trở thành thanh tịnh, nên mỗi khi
một ư niệm ác dấy động ở nơi tâm th́ tự ḿnh liền thấy biết ngay, mà đă
thấy biết tức đă tỉnh ngộ không c̣n mê muội th́ ác niệm tội lỗi sẽ tiêu
tan thành không.
Theo tâm để cải sửa là phương pháp tối
thượng, nhưng giả sử chẳng theo được th́ nên hiểu rằng luân thường đạo
lư không cho phép chúng ta tạo tội hay làm ác; nếu chẳng làm được nữa
th́ nên tùy sự, tùy việc mà giữ giới cấm, cố gắng đừng phạm tội. Khi gặp
sự việc dùng phương pháp trên hạ công kiêm với phương pháp hạ chẳng phải
là điều thất sách; nhưng chỉ chấp phương pháp hạ mà bỏ lăng phương pháp
thượng tức là vụng về vậy.
4.Hiệu nghiệm của việc sửa
lỗi
Bất quá khi phát nguyện cải sửa lỗi, ở
dương thế cần có bạn tốt thường nhắc nhở để tỉnh ḿnh, ở cơi âm cần quỷ
thần chứng minh tấm ḷng thành của ḿnh nhất tâm, nhất ư cầu sám hối,
ngày đêm chẳng biếng nhác buông thả, như vậy trải qua một hai tuần thất,
cho đến một tháng, hai, ba tháng, ắt hẳn có ứng nghiệm.
Hoặc thấy tâm thần điềm nhiên, khoan
khoái, hoặc thấy trí huệ bỗng được khai mở, hoặc gặp những trường hợp
rối ren phiền toái hốt nhiên xử sự giải quyết được rành rọt thông suốt,
hoặc gặp kẻ cừu thù mà hồi tâm chuyển ư vui vẻ không c̣n oán hận nữa,
hoặc mộng thấy thở ra những vật ô uế, hắc ám; hoặc mộng được các bậc
thánh hiền xưa kia tiếp đón dẫn dắt, hoặc mộng thấy bay bổng lên cảnh
giới hư không, hoặc mộng thấy tràng phan bảo cái, thấy những sự việc hi
hữu ít có như trên, đó đều là cảnh tượng của lỗi tiêu tội diệt vậy.
Nhưng đừng thấy thế mà tự kiêu tự đại là ḿnh đă đạt tới tŕnh độ cao để
vội ngưng nghỉ làm đứt đoạn mất con đường tiến triển.
Xưa quan đại phu Cừ Bá Ngọc, người nước
Vệ vào thời đại Xuân Thu, lúc hăy c̣n trẻ mới 20 tuổi mà đă giác ngộ
rằng lỗi lầm cần phải sửa, như lỗi ngày hôm qua th́ ngày hôm nay xét lại
để gắng sửa cho hết. Tới năm 21 lại hiểu biết được lỗi lầm cải sửa năm
trước chưa được hoàn toàn dứt bỏ hết; kịp tới năm 22 tuổi xét nghĩ lại
năm 21 tuổi th́ tựa như c̣n mơ mơ hồ hồ về những điều lầm lỗi chưa được
tu sửa. Cứ năm này kiểm thảo lại năm trước, theo đó mà dần dần tiếp tục
sửa đổi, đến năm 50 tuổi mà c̣n hay biết được lỗi của năm 49. Cái học tu
sửa lỗi lầm của người xưa dụng công như vậy đó.
Bọn chúng ta đều là những kẻ phàm phu tục
tử, tội ác tích tụ quá nhiều tựa như lông nhím bao bọc toàn thân nó; nếu
có hồi tưởng lại những sự việc đă làm th́ thường chẳng thấy có chỗ nào
lầm lỗi cả, đó là v́ tâm t́nh thô thiển, mắt bị che phủ kín t́m chẳng ra
lỗi để tu sửa.
Người mà tội ác quá sâu nặng sẽ thấy
chứng nghiệm ngay; hoặc là tâm tư bế tắc bất định, tinh thần hôn trầm
mệt mỏi, mọi việc xảy ra chỉ trong chớp mắt liền quên không nhớ nữa,
hoặc chẳng có sự ǵ cả mà phiền năo lo lắng; hoặc gặp người chính nhân
quân tử th́ thường ngượng ngùng e thẹn mất tinh thần; hoặc nghe những
lời luận bàn chính đáng hợp đạo lư mà chẳng hoan hỷ vui vẻ ưu nghe; hoặc
làm ơn lại bị oán, hoặc ban đêm thường mộng thấy nhiều sự điên đảo, điên
đảo cho đến nỗi mất trí sinh ra vọng ngôn, loạn ngữ không được b́nh
thường; đó đều là những h́nh trạng của nghiệp chướng phát hiện vậy. Nếu
thấy có những hiện tượng như trên th́ phải tức khắc phấn khởi tinh thần
dứt bỏ lỗi lầm cũ để mưu việc tự tu sửa canh tân, mong rằng đừng nên tự
ḿnh lại lừa dối ḿnh.
PHƯƠNG
PHÁP TÍCH THIỆN
I– Một
nhà tích thiện hẳn có nhiều vui
Mười gương mẫu của người xưa
Kinh Dịch nói: một nhà tích thiện hẳn có
nhiều vui. Xưa bà Nhan thị đem con gái gả cho Thúc Lương Hột là bà xét
kĩ thấy gia đ́nh đó tổ tông đă từng tích đức lâu đời mà đoán biết trước
là con cháu họ về sau sẽ hưng thịnh phát đạt.
Đức Khổng Tử tôn xưng vua Thuấn là bậc
đại hiền có nói: Tổ tiên được hưởng việc tế tự nơi tông miếu, con cháu
đời đời hưởng phúc, bảo tồn cơ nghiệp của tổ tông truyền lại, đều là
những lời nghị bàn thiết thực xứng đáng.
1.
Dưng Vinh làm quan đến chức thiếu sư, nguyên người huyện Kiến
Ninh tỉnh Phúc Kiến, gia đ́nh đời đời sinh sống bằng nghề chèo đ̣ đưa
khách qua sông. Nhân gặp phải ḱ mưa lũ quá lâu, nước từ trên núi đổ
xuống vùng hạ lưu. Các thuyền khác đều nhân cơ hội mà theo vớt các tài
vật trôi nổi trên sông, chỉ riêng thuyền của cụ nội ông thiếu sư chuyên
cứu vớt người mà thôi, tuyệt đối không tham vớt một chút tài vật nào cả.
Người làng ai cũng cười chê cho là ngớ ngẩn, đần độn.
Kịp cho tới khi sinh ra phụ thân của
thiếu sư th́ gia đ́nh đă dần dần khá, có thần nhân hóa làm một vị đạo sĩ
mà mách bảo rằng tổ phụ nhà ngươi có âm đức, con cháu sẽ được vinh hiển
phú quư, nên táng vào chỗ đất đó, bèn theo lời chôn cất vào chỗ huyệt đă
được chỉ dẫn, tức nay là phần mộ Bách thố vậy.
Sau sinh thiếu sư, vào năm 20 tuổi đă đỗ
tiến sĩ, làm quan tới chức tam công (tức thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo,
hay thái sư, thái phó, thái bảo), tằng tổ, nội tổ và phụ thân cũng được
truy phong chức tước như vậy. Con cháu đều vinh hiển, thịnh vượng, cho
tới nay trong gia đ́nh cháu chắt c̣n có nhiều người hiền.
2.
Dương Tự Trừng, người huyện Ngân, tỉnh Triết Giang, buổi đầu làm
huyện lại, ḷng vốn nhân hậu, ngay thẳng, giữ phép công b́nh. Vào thời
ấy, quan huyện lại quá nghiêm khắc, ngẫu nhiên gia h́nh tù nhân đến máu
chảy đầy đất mà cơn giận chưa nguôi. Họ Dương Quỳ xin khoan dung. Huyện
quan bảo: tù nhân này đă phạm tội lại không tôn trọng pháp luật, không
biết đạo lư nữa, khiến ta làm sao không giận được. Tự Trừng khấu đầu
thưa: Người trên lỗi đạo, không c̣n làm gương mẫu cho kẻ dưới noi theo
nên dân tâm thất tán từ lâu rồi, quan trên nếu hiểu rơ t́nh trạng phạm
pháp của dân th́ nên thương xót họ, chẳng nên thấy ḿnh xét xử án được
phân minh mà vui thích, vui c̣n chẳng nên huống hồ lại giận dữ sao! Quan
huyện nghe nói tỉnh ngộ mà nguôi cơn thịnh nộ.
Nhà rất nghèo, lại không nhận một chút
tặng vật nào cả. Gặp những lúc tù nhân thiếu ăn, thường t́m cách giúp
đỡ. Một hôm có bọn tù nhân mới từ xa tới, dọc đường không có ăn nên đói
lả, mà nhà lại thiếu gạo, đem cho tù ăn tất nhà không có miếng, để lại
nhà ăn th́ khó nhẫn tâm, bèn thương lượng với vợ. Bà vợ hỏi là tù nhân
từ đâu lại th́ Tự Trừng bảo là từ Hàng Châu tới, dọc đường không có ăn,
đói khát khổ sở, sắc mặt xanh xao như tàu lá, nhân đó lấy bớt gạo của
nhà nấu cháo cho tù ăn đỡ.
Về sau sinh được hai trai, con trưởng đặt
tên là Thủ Trần, con thứ là Thủ Chi, đều làm đến Lại bộ thị lang, một
người ở Bắc Kinh, một người ở Nam Kinh; cháu nội được hai người, trưởng
làm H́nh bộ thị lang, và thứ làm liêm hiến (án sát ty) ở tỉnh Tứ Xuyên,
tất cả con và cháu đều là những danh thần. Hiện nay, (tức vào thời của
Liễu Phàm tiên sinh) Sở Đ́nh hay Đức Chính cũng đều là ḍng dơi của gia
đ́nh đó.
3.
Xưa vào niên hiệu Chính thống nhà Minh, Đặng Mậu Thất khởi loạn ở
Phúc Kiến, sĩ dân theo giặc rất đông. Triều đ́nh cử quan đô hiến Trương
Giai người ở huyện Ngân, xuất quân nam chinh, tiễu trừ giặc. Sau Trương
Đô hiến phái viên đô sự họ Tạ, thủ hạ của Bố chánh ty tỉnh Phúc Kiến
truy sát tầm nă giặc ở phía đông tỉnh.
Tạ Đô sự t́m được quyển sổ danh sách của
đảng giặc; phàm người không theo phụ họa giặc đều bí mật được phát cho
một lá cờ nhỏ bằng vải trắng, ước hẹn tới ngày quân binh tấn công th́
treo cờ ở trước nhà, lại nghiêm lệnh cho quân lính không được giết hại
bừa băi, v́ thế cứu sống được cả vạn người. Sau con của Tạ Đô Sự là Tạ
Thiên thi đỗ trạng nguyên, làm quan đến tể tướng, cháu nội là Phi cũng
đỗ thám hoa.
4.
Bà họ Lâm, người huyện Phủ Điền, trên có mẹ già chăm làm việc
thiện, thường nắm cơm thí thực, ai đến cũng liền cho ngay mà không hề có
vẻ phiền hà, ghét bỏ. Một vị tiên hóa trang làm đạo nhân, mỗi sáng đến
xin đều đ̣i cho được sáu bảy nắm. Mỗi ngày đều cho như vậy, suốt ba năm
liền, ngày nào cũng như ngày ấy, nên thấu rơ tấm ḷng thành thực chỉ bố
thí mà không cầu mong ǵ cả. Nhân vậy, đạo sĩ bèn bảo rằng: Ta ăn của
nhà ngươi đă ba năm, chẳng biết lấy ǵ đền đáp. Sau nhà có chỗ đất quư,
nên táng vào chỗ đó, con cháu về sau quan chức, tước vị thật vô số kể
như vừng đựng trong đấu vậy. Người con bèn theo chỗ chỉ điểm mà để mộ.
Mới đợt đầu đă thấy phát ngay có chín người đăng khoa trúng cử, đời đời
quan tước cực thịnh. Ở Phúc Kiến có câu nói: chẳng người họ Lâm nào là
chẳng khoa bảng đề danh cả.
5.
Phụ thân của thứ sử Phùng Trác Am hồi c̣n là tú tài, một buổi
sáng trời mùa đông cực ḱ rét buốt, dạy sớm đi lên huyện học, dọc đường
gặp một người ngă nằm trên lộ bị tuyết phủ đầy, lại sờ thân thể người
đó, thấy nửa ḿnh đă bị đông cứng, bèn cởi áo lông của ḿnh ra mặc cho
và đưa về cứu giúp cho tỉnh lại; đêm mộng thấy thần nhân bảo: ngươi do
tâm chí thành cứu được một mạng người, ta sẽ khiến Hàn Kỳ (một vị tể
tướng đời nhà Tống) đầu thai vào làm con ngươi, kịp đến khi sinh ra Trác
Am bèn đặt tên Kỳ.
6.
Ưng thượng thư người phủ Đài Châu, tỉnh Triết Giang, lúc c̣n
tráng niên học tập ở trên núi, ban đêm nghe quỷ hú gọi nhau tập hợp,
tiếng hú thường làm nhiều người rùng rợn, nhưng ông không hề sợ hăi. Một
đêm nghe quỷ bảo nhau mụ vợ nhà kia chồng đi xa đă lâu không về, bố mẹ ở
nhà ép gả cho người khác, đêm mai sẽ thắt cổ ở nơi đây; vậy là ta đă có
người thế thân rồi.
Ông ngầm bán ruộng được bốn lạng bạc bèn
giả lời lẽ người chồng viết một bức thư kèm theo tiền gửi về nhà. Bố mẹ
ở nhà nhận được thư thấy bút tích không giống cũng hơi hoài nghi nhưng
lại nghĩ rằng thư có thể giả được nhưng tiền đâu có giả, vả lại được
biết tin con nên thôi không ép gả nữa. Người con sau đó trở về nhà, vợ
chồng cùng nhau sum họp vui vầy như thuở ban đầu.
Ông lại nghe thấy quỷ nói với nhau: Ta
đang sắp được thế thân mà gă tú tài kia làm hỏng chuyện của ta. Một quỷ
khác ở cạnh nói: Sao ngươi không hại hắn? Quỷ kia nói: Thượng đế thấy
người này tâm địa rất tốt, làm nhiều điều phúc, âm đức dày đáng bậc
thượng thư, ta làm sao hại nổi. Nhân đó họ Ưng tự nỗ lực chăm làm lành,
ngày càng gia công tu thiện, đức ngày càng thêm dày; gặp người thân
thích có chuyện cần cấp tức th́ tận t́nh t́m mọi cách giúp đỡ họ qua lúc
khó khăn, gặp trường hợp phải đối xử với người không biết lẽ phải trái,
không hiểu được đạo lư th́ ngược lại ông chỉ tự trách ḿnh sao không
biết cư xử với họ, mà vui vẻ an nhiên không chấp, coi như ḿnh lầm lỗi
vậy. Con cháu khoa bảng đỗ đạt cho tới nay thật là nhiều vô kể.
7. Người huyện Thường Thục, tỉnh Giang
Tô, họ Từ tên Thức tự Phượng Trúc, phụ thân là điền chủ giàu có, gặp năm
mất mùa, trước đề xướng việc quyên tô, tức bỏ không thu địa tô nữa, sau
lại đem thóc gạo dự trữ ra phát chuẩn cho người nghèo khó. Ban đêm nghe
thấy quỷ hô ở ngoài cửa: ngàn lần không sai, vạn lần không sai, tú tài
nhà họ Từ sẽ thành cử nhân lang, cứ thế tiếp tục hô liền nhiều đêm không
ngừng. Quả nhiên năm đó Phượng Trúc thi hương đỗ cử nhân.
Phụ thân của Phượng Trúc thấy vậy càng
gia công tích đức, cần mẫn chăm lo hành thiện chẳng chút lơ là mệt mỏi;
phàm những việc có ích lợi đều hết sức tận tâm làm như tu sửa cầu, tu bổ
đường sá, thí thực trai tăng, tiếp tế người nghèo… Sau lại nghe thấy quỷ
hô ở trước cửa: ngàn lần không sai, vạn lần không sai, cử nhân họ Từ
quan chức thăng tới đô sát. Phượng Trúc sau cùng làm quan tới Lưỡng
Triết tuần vũ.
8.
Ông Đồ Khánh Hy, người phủ Gia Hưng tỉnh Triết Giang, buổi ban
đầu giữ chức chủ sự bộ h́nh, thường vào trong ngục tra xét cẩn thận hỏi
lại t́nh trạng của tù nhân biết được nhiều người vô cớ bị tội. Ông không
tự lấy làm công lao của ḿnh mà viết sớ mật tŕnh lên đường quan, tức
thượng thư bộ h́nh. Về sau, các án tích đều được đưa về triều xét lại.
Đường quan theo lời trong mật sớ tra vấn lại t́nh trạng của tù nhân giải
oan được cho hàng chục người, khiến cho không ai là không phục. Thời đó
ở kinh thành tất cả mọi người đều khen ngợi thượng thư xử án thật công
minh.
Ông lại bẩm cáo đường quan: ở ngay kinh
thành mà c̣n nhiều dân bị án oan, th́ hàng trăm triệu dân ở khắp bốn
phương trong nước sao khỏi không có người bị oan ức, khá nên trong năm
năm lại sai phái một vị giảm h́nh quan đi điều tra sự thực xét lại án,
hoặc gia giảm tội h́nh, hoặc giải oan phóng thích họ. Thượng thư bộ h́nh
tấu tŕnh hoàng đế th́ lời đề nghị đó liền được phê chuẩn, và ông có tên
trong danh sách những người được sai phái làm giảm h́nh quan. Ông nằm
mộng thấy thần nhân bảo: người số không con, nay đề nghị việc giảm h́nh
thật rất hợp ḷng trời nên thượng đế ban cho ngươi được ba trai đều mặc
cẩm bào đai vàng. Ngay đêm đó, bà vợ thụ thai, sau sinh ra Ưng Huyên,
Ưng Khôn, Ưng Tuấn đều quan chức hiển hách cả.
9.
Ở phủ Gia Hưng có người tên Bao Bằng, hiệu Tín Chi, thân phụ ông
làm thái thú huyện Tŕ Dương sinh được bảy người con. Bằng là út, gởi rể
ở nhà họ Viên, huyện B́nh Hồ cùng với phụ thân ta là chỗ thâm giao, học
rộng tài cao, nhiều lần thi hương không đậu cử nhân nên chán chuyện khoa
bảng mà chuyên tâm học Phật và Lăo.
Một hôm đi
du ngoạn Măo Hồ ở phía đông tỉnh, ngẫu nhiên tới một ngôi chùa ở làng
nọ, thấy tượng đức Quán Thế Âm bị lộ thiên, dầm mưa loang lổ, bèn mở túi
đẫy lấy mười lạng bạc đưa cúng dường để ḥa thượng trụ tŕ sửa lại chùa
cho khỏi dột nát làm tượng bị ướt át, th́ ḥa thượng cáo bạch là việc tu
sửa mất nhiều công mà tiền bạc không đủ, e khó hoàn thành công tác. Bao
Bằng cho mở rương mây lấy thêm bốn tấm vải, sản phẩm của Tung Giang, và
bảy bộ áo kép bằng vải gai c̣n mới tinh đưa cúng dường để bán lấy tiền
phụ thêm vào việc tu bổ chùa. Người làm có ư tiếc, ngăn cản lại th́ Bao
Bằng bảo miễn là tượng đức Bồ Tát không bị ướt át là được, ta dù có ở
trần cũng chẳng thương tổn ǵ. Ḥa thượng trụ tŕ nghe nói cảm kích rơi
lệ bảo rằng: tiền tài, vải vóc, quần áo xả bỏ không phải là điều khó,
chỉ riêng có tấm ḷng chân thành như vậy đâu phải dễ có. Sau, công việc
tu bổ hoàn thành, ông dẫn cha già cùng đi, đêm ngụ lại ở chùa, mộng thấy
các vị hộ pháp lại cảm tạ, bảo: Con cháu nhà ngươi sẽ được hưởng lộc ở
đời. Về sau con ông là Biện và cháu là Sanh Phương đều đăng khoa, đỗ
đạt, quan chức hiển hách.
10.
Phụ thân của Chi Lập, người huyện Gia Thiện, làm lại ở pḥng h́nh
sự thấy tù nhân vô cớ bị hàm oan hăm vào trọng tội, ông lấy làm thương
hại muốn cứu mạng. Tù nhân cảm kích bảo vợ rằng: Chi công có ḷng tốt
muốn giải oan cứu sống ta, thực lấy làm hổ thẹn là ta không có ǵ báo
đền ơn đức ấy được. Ngày mai, ngươi hăy về nhà ngỏ ư đem thân hầu hạ,
hoặc giả ông ấy chịu thu dụng ngươi, tất ta ắt có đường sống vậy.
Người vợ khóc mà nghe lời chồng; kịp khi
họ Chi tới, tự ḿnh ra mời rượi và bày tỏ hết ư nguyện của chồng. Họ Chi
tuy không nghe nhưng vẫn tận t́nh giúp đỡ để bạch hóa án oan. Người tù
được tha, cả hai vợ chồng cùng đến nhà khấu đầu cảm tạ mà bảo rằng: Chi
công ân đức dày như vậy, ở đời thực hiếm có, hiện nay chúng tôi có đứa
con gái đă lớn muốn tiến dẫn làm thiếp để hầu hạ công việc nhà cửa, đây
cũng là chuyện thường t́nh hợp lư. Huyện lại họ Chi sắm sanh lễ vật và
thâu nạp làm thiếp, sinh ra Chi Lập mới hai mươi tuổi đă đỗ khôi nguyên
làm quan tới chức Khổng mục ở Hàn Lâm Viện. Lập sinh ra Cao, Cao sinh ra
Lộc đều học rộng và có chức phận cả. Lộc sinh ra Đại Luân cũng khoa bảng
đề danh.
Mười chuyện trên đây, tuy cách cư xử,
hành động của các nhân vật có khác nhau, nhưng đều quy về việc làm lành
lại gặp quả báo tốt lành.
II–Thế nào là thiện ?
1.
Bàn luận rơ ràng về thiện.
Nếu xét một cách tinh tường mà nói, th́
thiện có chân có giả, có ngay thẳng có khuất khúc, có âm có dương, có
phải hay chẳng phải, có lệch hay chính đáng, có đầy có vơi, có tiểu có
đại, có dễ có khó, đều cần bàn luận rơ ràng. Làm việc thiện mà không
hiểu rơ đạo lư, cứ tự cho việc ḿnh làm là hành thiện, ắt không khỏi tạo
nghiệp, uổng phí mất tâm tư một cách vô ích.
Thế nào là chân thiện và giả thiện?
Xưa có một số nho sinh yết kiến Trung Phong ḥa thượng (một vị cao tăng
triều đại nhà Nguyên) mà hỏi: Nhà Phật bàn thiện ác báo ứng như bóng
theo h́nh, tức làm lành gặp lành, làm ác gặp ác; nay có người nọ thiện
mà con cháu lại không được thịnh vượng, mà kẻ kia ác th́ gia đ́nh lại
phát đạt, như vậy là Phật nói về việc báo ứng thực vô căn cứ sao?
Ḥa thượng nói: Người phàm tâm t́nh chưa
được tẩy sạch, chưa được thanh tịnh, tuệ nhăn chưa khai, thường nhận
thiện làm ác, cho ác là thiện; người như vậy không phải là hiếm có, đă
tự ḿnh lẫn lộn phải trái, cho ác là thiện, cho thiện là ác, điên đảo
đảo điên mà không hay lại c̣n trách oán trời cho báo ứng là sai, là
không công bằng ư. Bọn nho sinh lại hỏi: Mọi người thấy thiện th́ cho là
thiện, thấy ác th́ cho là ác, sao lại bảo là lẫn lộn, trái ngược, điên
đảo vậy? Ḥa thượng bảo họ thử ví dụ xem sự t́nh như thế nào là thiện và
thế nào là ác. Một người trong bọn họ nói: Mắng chửi đánh đập người là
ác, tôn kính, lễ phép với người là thiện. Ḥa thượng nói không nhất định
là như vậy. Một người khác cho là tham lam, lấy bậy của người là ác, ǵn
giữ sự thanh bạch liêm khiết là thiện. Ḥa thượng cũng bảo không nhất
định như vậy. Mọi người đều lần lượt đưa ra thí dụ về thiện và ác, nhưng
Trung Phong ḥa thượng đều bảo không nhất định như vậy. Nhân thế bọn họ
đều thỉnh ḥa thượng giảng giải cho.
2.
Định nghĩa chữ thiện
Ḥa thượng Trung Phong chỉ dạy rằng: Làm
việc có ích cho người là thiện, c̣n chỉ có lợi cho riêng ḿnh là ác. Có
ích cho người th́ dù đánh hay mắng chửi họ cũng gọi là thiện, chỉ có ích
cho riêng ḿnh dù tôn kính, lễ phép đối với người cũng kể là ác. Bởi
vậy, người làm việc thiện mà có lợi ích cho người là công, chỉ lợi cho
ḿnh là tư, công là chân, c̣n tư là giả.
Lại nữa, làm việc thiện mà phát xuất từ
tấm ḷng thành là chân thiện, c̣n hời hợt, chiếu lệ mà làm là giả thiện.
Hơn nữa, hành thiện mà không nghĩ tới một sự báo đáp nào cả là chân
thiện, trái lại c̣n hy vọng có sự đền đáp là giả thiện, đó là những điều
tự ḿnh cần khảo sát kĩ lưỡng.
Thế nào là ngay thẳng, khuất khúc?
Nay ta thấy một người cẩn thận dễ bảo mà vội phân loại ra cho là thiện
nhân có thể dung nạp. Các vị thánh nhân dùng người th́ lại khác, thà
dùng một cuồng sỹ cao ngạo, quật cường có tài cán biết mạnh dạn tiến thủ
c̣n hơn. Người cẩn thận dễ bảo, tuy ở đời ai cũng ưu thích cho là tốt,
nhưng thánh nhân cho là không có chí khí hướng thượng, chỉ biết vâng dạ
không hiểu rơ đạo lư nên có phần không lợi cho nền phong tục đạo đức.
Bởi thế cho nên quan niệm của người phàm về thiện ác, tốt xấu thực rơ
ràng khác biệt, tương phản với thánh nhân vậy.
Suy rộng ra th́ mọi sự lựa chọn thiện ác,
ǵn giữ hay buông xả của người đời đều không giống với thánh nhân, c̣n
chỗ thiên địa, quỷ thần coi là phúc, thiện họa, dâm tà, phải trái đều
đồng tiêu chuẩn với thánh nhân mà khác biệt hẳn với người phàm tục.
Phàm muốn tích lũy thiện tất phải phát
xuất từ chỗ tiềm ẩn của chân tâm đă được thanh lọc hết ư ác, quyết không
để nhĩ mục sai khiến hành thiện v́ tự tư tự lợi. Một ḷng một dạ cứu
giúp đời là ngay thẳng, c̣n nếu có chút ḷng mị thế, lấy ḷng người để
được danh vọng, tiền tài th́ là hành động khuất khúc, chỉ một ḷng một
dạ tôn kính người là ngay thẳng, c̣n có chút ḷng bỡn cợt, coi khinh
người là khuất khúc; đều nên bàn luận tường tận.
Thế nào là âm thiện, dương thiện?
Phàm làm việc thiện mà mọi
người đều hay biết được th́ gọi là dương thiện, hành thiện mà không một
ai biết là âm đức, thực ra đă có thiên địa quỷ thần biết rơ, nên có âm
đức th́ tự nhiên sẽ được cảm ứng quả báo; dương thiện được hưởng danh
tiếng ở đời, đă có danh tiếng tức là đă được phúc báo rồi. Xưa nay những
người có danh, có tiếng thường bị tạo hóa ganh ghét đố kỵ; v́ thế những
người có danh tiếng lừng lẫy mà thực sự không có nhiều công đức xứng
đáng với danh tiếng đó, thường gặp phải nhiều tai họa bất ḱ xảy ra.
Người không có tội lỗi ǵ mà bỗng phải chịu mang tiếng xấu một cách oan
uổng th́ con cháu họ sẽ được đáp đền, mau chóng phát đạt. Chỗ sai biệt
của dương thiện và âm thiện cần phải cẩn thận suy xét cho kỹ.
Thế nào là phải và chẳng phải?
Nước Lỗ xưa có luật người Lỗ
nào chuộc được người bị bắt làm kẻ hầu hạ ở các nước chư hầu về đều được
phủ quan thưởng tiền. Tử Cống (học tṛ đức Khổng tên là Tứ) chuộc người
về mà không nhận tiền thưởng. Đức Khổng nghe biết lấy làm buồn phiền mà
bảo rằng: Tứ làm việc thất sách rồi. Ôi, thánh nhân xử sự nhất cử nhất
động có thể cải sửa phong tục, thay đổi tập quán, làm gương mẫu cho bách
tính noi theo, chẳng phải cứ nhiệm ư làm những việc thích hợp với riêng
ḿnh. Nay nước Lỗ, người giàu ít, người nghèo th́ nhiều, nếu nhận thưởng
cho là tham tiền, là không liêm khiết, c̣n không lănh thưởng th́ người
nghèo sao có tiền tiếp tục chuộc người? Từ nay về sau chắc không ai
chuộc người ở các nước chư hầu về nữa.
Tử Lộ (tên Do, học tṛ đức Khổng) cứu
người khỏi chết đuối, được tạ ân một con trâu. Tử Lộ nhận lănh, đức
Khổng hay chuyện hoan hỷ bảo rằng: Từ nay về sau nước Lỗ sẽ có nhiều
người lo cấp cứu kẻ chết đuối. Cứ lấy con mắt phàm tục mà xét th́ Tử
Cống không lănh tiền thưởng là hay, c̣n Tử Lộ nhận tặng trâu là kém.
Nhưng kiến giải của thánh nhân khác với người phàm nên trái lại đức
Khổng lại chọn Do mà truất Tứ. Vậy nên biết người hành thiện không nên
chỉ nghĩ tới lợi ích nhăn tiền mà cần xét xem hành động đó có ảnh hưởng
tệ hại ǵ về sau này hay không, không nên bàn đến lợi ích nhất thời ở
đời này mà phải nghĩ tới tương lai xa, mà cũng chẳng nên chỉ nghĩ riêng
cho cá nhân ḿnh mà phải nghĩ cho cả thiên hạ đại chúng nữa.
Việc làm hiện nay tuy bề ngoài là thiện
nhưng trong tương lai lại để hại cho người, th́ thiện mà thực chẳng phải
thiện, c̣n việc làm hiện thời tuy chẳng phải thiện nhưng về sau này lại
có lợi ích cứu giúp người th́ tuy ngày nay chẳng phải thiện mà chính
thực là thiện vậy. Chẳng qua ở đây chỉ lấy một vài sự việc mà bàn thế
nào là thiện và không phải thiện mà thôi. Tuy nhiên, ở đời có nhiều sự
t́nh tương tự, chẳng hạn như tưởng là hợp lễ nghĩa, là có trung tín, từ
tâm mà thực ra lại trái lễ nghĩa, không phải trung tín hay từ tâm; đều
phải quyết đoán chọn lựa kỹ càng.
Thế nào là thiên lệch và chính đáng?
Xưa, ông Lă Văn Ư,
lúc mới từ chức tể tướng, cáo lỗi hồi hương, dân chúng bốn phương nghênh
đón như Thái sơn, Bắc đẩu. Nhưng có một người say rượi mạ lỵ ông. Lă
công điềm nhiên bất động bảo gia nhân: Kẻ say chẳng chấp làm ǵ, đóng
cửa lại mặc kệ hắn. Qua một năm sau, người đó phạm tội tử h́nh bị giam
vào ngục. Lă công hay biết sự t́nh mới hối hận rằng: giá mà ngày ấy ta
bắt hắn đưa quan nha xử phạt th́ hắn có thể chỉ bị trừng giới với một
tội phạm nhẹ mà tránh khỏi phạm trọng tội về sau. Ta lúc đó chỉ muốn giữ
ḷng nhân hậu tha thứ cho hắn, không ngờ lại hóa ra nuôi dưỡng tính
ngông cuồng của hắn để phạm phải tội tử h́nh như ngày nay vậy. Đó là một
sự việc do ḷng thiện mà hóa ra làm ác.
Lại nữa, có khi làm việc thiện với tâm
ác, như một nhà đại phú nọ gặp năm mất mùa, dân nghèo giữa ban ngày cướp
bóc thóc gạo ở ngay nơi thị tứ, báo cáo lên huyện th́ huyện không xử lư,
dân nghèo được thể càng lộng hành. Gia đ́nh nọ bèn tự xử sự cho bắt
những kẻ cướp bóc giam giữ trị tội nên ổn định được t́nh h́nh, nếu không
hành động như vậy cướp sẽ làm loạn.
Sở dĩ ai cũng đều biết làm thiện là chính
đáng và làm ác là thiên lệch nhưng tâm tuy thiện là chính, mà việc làm
hóa ra ác là thiên lệch nên gọi đó là thiên ở trong chính; c̣n tâm tuy
ác mà việc làm hóa ra thiện, đó là chính ở trong thiên vậy. Sự lư này
không thể không hiểu cho thật rơ ràng.
Thế nào là đầy và vơi ( bán và măn)?
Kinh Dịch nói việc thiện mà
chẳng tích lũy lại cho nhiều không đủ để được danh thơm tiếng tốt, việc
ác mà không đọng lại nhiều chẳng đủ để bị họa sát thân. Kinh Thư có nói
nhà Thương tội ác quá nhiều như nước vỡ bờ v́ thế mà Trụ vương bị diệt.
Việc tích thiện cũng như lưu trữ vật dụng, nếu chăm chỉ cất giữ ắt sẽ
đầy kho, c̣n biếng nhác không chịu tích lại th́ vơi chứ không đầy.
Chuyện làm thiện được đầy hay vơi, bán hay măn là như vậy.
Xưa có một nữ thí chủ vào chùa lễ Phật,
muốn cúng dường nhưng lại không có tiền, trong túi chỉ c̣n hai đồng bèn
đem cả ra để cúng. Vị trụ tŕ đích thân làm lễ bái sám hồi hướng cho.
Sau nữ nhân đó được tuyển vào cung, tiền tài, phú quư có thừa, đến chùa
lễ Phật đem cả ngàn lượng bạc cúng dường. Ḥa thượng trụ tŕ sai đồ đệ
thay ḿnh làm lễ hồi hướng mà thôi. Nữ thí chủ nọ thấy vậy liền hỏi:
Trước đây tôi chỉ cúng dường có hai đồng mà phương trượng đích thân làm
lễ bái sám hồi hướng cho, nay cúng dường cả ngàn lượng bạc mà sư lại
không tự ḿnh làm lễ là v́ sao vậy? Vị ḥa thượng đáp: Trước kia tiền bố
thí quả là ít ỏi, nhưng phát xuất từ tấm ḷng thật chân thành, nếu bần
tăng không đích thân bái sám hồi hướng th́ không đủ báo đáp được ân đức
ấy. Nay tiền cúng dường tuy thật quá hậu, nhưng tâm bố thí không được
chân thành như trước, nên bảo đồ đệ thay bần tăng làm lễ cũng đủ. Với
ḷng chí thành bố thí cúng dường chỉ hai đồng mà việc thiện được viên
măn, c̣n bố thí cả ngàn lượng bạc mà ḷng không được chí thiết th́ công
đức đó chỉ được bán phần mà thôi. Trên đây là một thuyết nói về làm
thiện được bán và măn hay vơi và đầy vậy.
Chung Ly Quyền chỉ dạy cho Lă Đồng Tân
cách luyện đan điểm sắt thành vàng có thể đem dùng để cứu giúp người
đời. Lă Đồng Tân hỏi rằng vàng đó sau có thể biến chất hay không? Chung
Ly Quyền bảo năm trăm năm sau vàng ấy sẽ trở lại nguyên bản chất cũ là
sắt, th́ họ Lă nói: Như vậy là sẽ gia hại cho người đời 500 năm về sau,
ta chẳng muốn học phép ấy làm ǵ. Chung Ly Quyền bảo: Muốn tu tiên cần
phải tích công lũy đức 3000 điều, nhưng chỉ một lời của nhà ngươi nói đó
cũng đủ măn 3000 công đức rồi. Đây lại thêm một thuyết nữa về đầy vơi
hay bán măn vậy.
Hơn nữa, làm việc thiện mà tâm không hề
chấp trước là ḿnh làm thiện, cứ tùy theo công việc nào ḿnh làm mà được
thành tựu th́ hành động đó gọi là măn. Nếu tâm c̣n chấp việc ḿnh làm là
thiện th́ dẫu cả đời chăm chỉ hành động cũng chỉ là bán thiện mà thôi.
Giả như mang tiền tài cứu giúp người, nội tâm không nghĩ tới ḿnh là
người bố thí, ngoài mặt không cần biết người nhận tiền là ai, ở khoảng
trung gian cũng không nghĩ tới số tài vật bố thí là bao nhiêu, đó gọi là
tam luân thể không, bố thí với tấm ḷng thanh tịnh như vậy th́ một đấu
thóc cũng có thể trồng thành vô lượng vô biên phúc đức, dù một xu cũng
có thể tiêu diệt được tội nghiệp của ngàn kiếp trước. Nếu như c̣n tồn
tâm nghĩ tới ḿnh là người làm thiện, số tài vật đem bố thí và người
nhận vật là ai, th́ dù có vạn lượng bạc đem cho, phúc cũng không được
viên măn. Đây cũng là một thuyết nữa về bán hay măn thiện, thiện đầy hay
vơi.
Thế nào là đại và tiểu?
Xưa Vệ Trọng Đạt, một quan
chức ở Hàn Lâm Viện bị nhiếp hồn đưa xuống âm phủ. Diêm vương sai các
phán quan tŕnh những cuốn sổ ghi việc thiện và ác ra để xét. Nếu đem so
sánh th́ sổ ghi những việc ác thực quá nhiều, c̣n sổ ghi việc thiện chỉ
có một cuốn nhỏ mỏng như que đũa mà thôi. Diêm vương sai bắc lên cân,
cân thử th́ bên 1 cuốn sổ ghi việc thiện lại nặng nhiều hơn tất cả những
cuốn sổ ghi việc ác hợp lại . Trọng Đạt nhân thế mới hỏi: Năm nay, bản
chức chưa đến 40 tuổi đời mà sao tội lỗi lại có thể nhiều đến như thế?
Th́ Diêm vương bảo: Mỗi một niệm ác kể là một tội không cần đợi tới lúc
có thực sự phạm phải hay không. Trọng Đạt lại hỏi thêm là trong cuốn sổ
nhỏ đó ghi việc thiện ǵ vậy. Diêm vương bảo: Triều đ́nh đă từng dự tính
khởi đại công tác tu sửa cầu đá ở Tam Sơn, nhà ngươi dâng sớ can gián.
Sớ văn đó có ghi chép vào sổ vậy. Trọng Đạt thưa: Bản chức tuy có dâng
sớ, nhưng triều đ́nh không y theo lời tấu tŕnh, th́ sự việc đâu có ích
ǵ? Th́ Diêm vương lại bảo cho hay là: Triều đ́nh không y theo lời tấu,
nhưng một niệm thiện đó của nhà ngươi là v́ lợi ích của toàn dân, muốn
cho họ khỏi bị lao công vất vả, khỏi bị sưu cao thuế nặng, nếu mà lời
tấu được triều đ́nh y theo th́ công đức của nhà ngươi thực vô cùng lớn
lao. Cho nên nếu có chí nguyện làm việc lợi ích cho quốc gia thiên hạ,
cho đại chúng th́ tuy việc làm đó có nhỏ mà công đức lại lớn, c̣n nếu
chỉ nghĩ làm lợi riêng cho thân ḿnh th́ tuy có làm nhiều mà công đức
lại nhỏ vậy.
Thế nào là khó và dễ?
Các vị tiên nho xưa có nói
muốn khắc phục ḿnh, muốn thắng được tâm ḿnh th́ nên bắt đầu từ chỗ khó
khắc phục mà khởi công trước. Đức Khổng Tử bàn về nhân ái cũng nói bắt
đầu từ chỗ khó mà thi hành trước, tức là từ chỗ phải thắng được ḷng
ḿnh vậy, bởi lẽ khó mà làm được th́ dễ ắt cũng làm xong.
Như ông họ Thư ở Giang Tây bỏ hết cả tiền
lương gom góp trong hai năm dạy học đem nộp quan để trừ vào tiền thiếu
nợ giúp cho hai vợ chồng nhà nọ được sum họp khỏi bị bắt đi làm gia nhân
nhà người; đó đều có thể gọi là chỗ khó xả bỏ mà xả bỏ được. Lại như ông
già họ Cận ở Trấn Giang tuổi đă cao, không con nối dơi, lân gia có người
đem đứa con gái c̣n trẻ đến cho nạp làm thiếp, nhưng ông không nhẫn tâm
thu nạp mà đem hoàn trả lại. Đó là chỗ khó có thể nhẫn mà nhẫn được. Vậy
nên phúc báo trời cho hưởng sẽ được hậu.
Phàm những người có tiền tài, có quyền
thế mà họ muốn làm phúc th́ thực là dễ, dễ mà chẳng làm là tự hủy hoại
ḿnh, người nghèo hèn khốn cùng muốn làm phúc th́ thật là khó, khó nhưng
mà làm được, đó mới thực là đáng quư vậy.
3.- Tùy duyên hết sức tu thập
thiện
Tùy lúc gặp duyên lành cứu giúp người,
hay tùy hỷ công đức mà hành thiện, nếu phân biệt ra từng loại th́ thật
rất nhiều, nhưng đại khái có 10 loại như sau: thứ nhất, trợ giúp người
cùng làm thiện; thứ hai, giữ ḷng kính mến người; thứ ba, thành toàn
việc thiện của người; thứ tư, khuyến khích người làm thiện; thứ năm, cứu
người gặp nguy khốn; thứ sáu, kiến thiết, tu bổ có lợi ích lớn; thứ bảy,
xả tài làm phúc; thứ tám, giữ ǵn bảo hộ chánh pháp; thứ chín, kính
trọng tôn trưởng; thứ mười, thương tiếc mạng sống loài vật.
Thế nào là trợ giúp người cùng làm thiện?
Xưa vua Thuấn, lúc chưa tức
vị, thấy những người đánh cá ở đầm Lôi Trạch, đều tranh chiếm chỗ nước
sâu nhiều cá, c̣n người già yếu phải t́m chỗ nước nông cạn chảy xiết ít
cá mà đánh, nên có ḷng trắc ẩn bất nhẫn, bèn cũng tới đánh cá; thấy
người nào cũng tranh giành chỗ, th́ ông im lặng không đả động ǵ đến
tánh xấu ấy, c̣n thấy người mà có ḷng nhường chỗ th́ ông hết lời khen
ngợi mà theo gương đó cũng nhường chỗ cho người khác. Một năm sau, những
người đánh cá ở những chỗ nước sâu, ai cũng có ḷng nhường chỗ cho nhau
mà không tranh giành nữa.
Ôi, vua Thuấn thực là sáng suốt, há chẳng
phải mất lời mà khuyên bảo giáo hóa được người sao! Tuy không dùng lời
mà dùng chính bản thân ḿnh làm gương mẫu cho người khác tự sửa đổi lấy
ḿnh. Đây là chỗ khổ tâm và khéo dụng công của vua Thuấn vậy.
Bọn chúng ta ở đời mạt pháp này chẳng nên
thấy ḿnh có chỗ sở trường mà khinh khi chèn ép người;
chẳng nên lấy chỗ hay giỏi của ḿnh mà
đem so sánh xét người; chẳng nên thấy ḿnh có quyền năng thế lực mà làm
khốn khó người; nếu ḿnh có tài có trí cũng chẳng nên khoe khoang biểu
lộ ra ngoài mà nên ẩn giấu ở bên trong coi như tài ḿnh c̣n non, trí c̣n
kém như không thực có ǵ hết, và thấy người có lỗi lầm th́ bao dung ẩn
nhẹm cho, tức ẩn ác dương thiện vậy.
Một là để cho người tự hối mà sửa lỗi,
hai là để họ tự biết lỗi mà e dè úy kỵ không dám phóng túng làm càn. Nếu
thấy người có chỗ hay tốt có thể chấp nhận học hỏi được th́ dù là việc
thiện nhỏ cũng nên ghi nhớ ngay, không những để tự ḿnh học lấy chỗ hay
của người, mà c̣n tán dương thuật lại cho mọi người cùng hay biết.
Phàm những việc làm thường ngày, một lời
nói, một hành động hoàn toàn đều không nên v́ lợi cho ḿnh mà làm, nên
đặt ra nguyên tắc nghĩ và làm lợi cho thiên hạ, đại chúng. Đây là chỗ độ
lượng của người chính nhân quân tử coi thiên hạ là công mà ḿnh là tư.
Thế nào là giữ ḷng kính mến người?
Người quân tử và tiểu nhân,
nếu chỉ xét h́nh dáng bề ngoài thường có sự lẫn lộn khó phân biệt, duy
có một điểm thiện ác khác nhau xa là ở chỗ tồn tâm biết giữ được ḷng
ḿnh, và do đó mà phán xét th́ trắng đen rơ ràng trái hẳn nhau; cho nên
nói người quân tử sở dĩ khác người là ở chỗ tồn tâm vậy.
Chỗ tồn tâm của người quân tử chỉ là ḷng
tôn kính, yêu mến người. Đại khái con người ta ở đời có người thân sơ
hay sang hèn, có người thông minh trí tuệ hay đần độn ngu si, có người
hiền lương đạo đức hay phàm phu tục tử, hàng vạn vạn người chẳng ai
giống ai, nhưng đều là đồng bào của ta, đều cùng một thể chất như ta,
sao lại chẳng yêu kính ư? Thánh nhân, hiền nhân thường luôn kính trọng,
thương yêu đại chúng làm lợi cho họ, nếu ta cũng kính yêu mọi người là
trùng hợp với ḷng của các vị thánh hiền, như vậy cũng như ta có ḷng
kính ái các vị ấy. Nếu như ta thông hiểu được chí nguyện của đại chúng
tức là hiểu rơ được tâm ư của thánh hiền. Bởi v́ chí nguyện của người
đời là mong được lợi lạc an b́nh, mà tâm ư của thánh hiền vốn dĩ vẫn v́
đại chúng mà làm cho họ được như ư muốn, đắc kỳ sở nguyện; ḷng chúng ta
nếu trùng hợp với ḷng kính ái của thánh hiền mà làm cho đại chúng được
an lạc tức là chúng ta đă v́ thánh nhân và hiền nhân mà làm lợi lạc cho
mọi người vậy.
Thế nào là thành toàn việc thiện của
người?
Một ḥn đá trong có ngọc nếu bị ném bỏ ắt
sẽ vỡ tan như ḥn ngói, nhưng nếu đem mài dũa, chạm trổ ắt sẽ thành khuê
chương, hốt ngọc của vua quan. Cho nên phàm thấy người làm việc thiện,
hoặc thấy ư chí và tư chất của họ có thể tiến thủ thành công th́ đều nên
khuyến dụ, trợ giúp họ; hoặc khen ngợi khích lệ, hoặc ǵn giữ bao bọc
họ; hoặc biện bạch hộ cho họ hay chia xẻ cùng họ nỗi oan ức bị người
ghen tị mà vu họa phỉ báng họ, cốt sao giúp cho họ được thành công mà
thôi.
Đại khái, con người thường không ưu thích
những người không giống như ḿnh, chẳng hạn như ác không ưu thiện, tiểu
nhân không thích quân tử. Người trong một xóm làng, thiện th́ ít mà xấu
ác th́ nhiều, v́ thế người thiện ở đời bị kém thế khó có thể tự lập được
vững vàng. Hơn nữa người hào kiệt, thông minh tài cán, tính t́nh cương
trực không trọng bề ngoài, không ưu tiểu tiết nên hay bị người ta hiểu
lầm mà chỉ trích phê b́nh; v́ thế cho nên việc thiện thường dễ bị hư
hỏng mà người thiện thường bị nhạo báng, cười chê, chỉ duy có người
trưởng giả nhân hậu mới hiểu rơ được sự t́nh mà phù trợ giúp cho họ được
thành công. Thành toàn cho người th́ công đức thực là lớn lao vô cùng.
Thế nào là khuyến khích người làm thiện?
Con người ta đă sinh ra làm
người, ai mà không có lương tâm. Đường đời mênh mông mù mịt rất dễ bị sa
đọa ch́m đắm v́ lợi danh. Đối với những người c̣n mải mê tham danh, tham
lợi, tạo thành nghiệp ác, ta nên t́m cách để cảnh tỉnh họ cho thoát khỏi
sự mê hoặc, cũng giống như họ đang trải qua một giấc mộng lớn trong đêm
dài mà làm cho họ được thức tỉnh, hay giống như họ bị hăm vào ṿng phiền
năo tích tụ từ lâu đời mà ta giúp họ trong trắng đoạn trừ, bại trừ hết
th́ ân huệ đó thật vô biên vô lượng.
Hàm Dũ, đời nhà Đường có nói: Uốn ba tấc
lưỡi dùng lời nói mà khuyên người làm việc thiện chỉ là phương pháp nhất
thời bởi có thể nghe tai này lọt qua tai khác rồi quên đi, c̣n muốn có
hiệu quả dài lâu đến tận trăm năm về sau th́ dùng văn thư sách vở để lại
mà khuyên người đời làm lành tránh ác. Tuy nhiên, dùng lời nói hay sách
vở khuyên người cũng giống như gặp bệnh nào th́ phát thuốc trị bệnh ấy
cho bệnh nhân kể cũng có hiệu lực nhưng c̣n lưu lại dấu vết, c̣n như
dùng chính bản thân ḿnh hành động làm mẫu mực, làm gương cho người
trông thấy để họ tự nhiên tỉnh ngộ biết được lỗi lầm mà sửa đổi th́ hiệu
quả cũng chẳng kém mà không để lại h́nh tích ǵ; cả hai phương tiện này
đều chẳng thể bỏ qua. Muốn giúp người, khuyên người cần phải thông minh
sáng suốt, biết tùy thời, tùy người không để mất lời tức phí lời nói của
ḿnh mà người không nghe, cũng không để mất người, tức là gặp người có
thể khuyên cải được mà ḿnh không hành động để lỡ mất dịp làm lành, như
thế là kém hiểu biết, không có trí tuệ vậy.
Thế nào là cứu người lúc nguy cấp?
Người ta ai cũng có lúc gặp
phải sự tai ương hoạn nạn xảy ra. Ngẫu nhiên mà ta gặp trường hợp người
bị nạn th́ coi sự đau khổ của người cũng như là ḿnh đau mà mau mau cứu
giúp; hoặc dùng lời nói làm nhẹ nỗi oan uổng uất ức cho họ, hoặc t́m mọi
cách giúp họ khỏi sự thống khổ triền miên. Thôi Tử có nói: Làm ân không
cần để ư tới là nhỏ hay lớn, chỉ cần lúc người gặp nguy khốn mà tới giải
cứu, giúp đỡ ngay là được. Đó thực là lời nói của người có ḷng nhân
hậu, đạo đức vậy.
Thế nào là kiến thiết, tu bổ lợi ích lớn?
Nhỏ như một thôn xóm, lớn như
trong một huyện, phàm những công đức kiến thiết có lợi ích công cộng cần
phải nên góp công, góp của, như khai cừ dẫn thủy, như tu bổ đê điều
pḥng lụt lội, như sửa chữa cầu cống tiện việc giao thông đi lại hay bố
thí cơm nước để cứu đói cứu khát; tùy duyên và tùy cơ hội khuyến khích
người cùng hợp lực xây dựng, chẳng nề gian khổ, chẳng quản bị ganh tị,
hiềm nghi, oán trách, cứ tận tâm, tận lực mà hành động.
Thế nào là xả tài làm phúc?
Theo nhà Phật th́ việc hành
thiện có hàng vạn điều để làm nhưng tựu trung bố thí là điều cần trước
mắt, muốn bố thí chỉ cần có một chữ xả mà thôi. Người am hiểu rơ ràng lư
lẽ này th́ trong xả lục căn (nhăn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ư), ngoài xả
lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), nhất thiết những ǵ ḿnh sở
hữu không có ǵ là không xả được. Nếu không đạt tới tŕnh độ có thể xả
bỏ hết, th́ trước tiên hăy bắt đầu dùng tiền mà bố thí.
Người đời lấy cơm ăn áo mặc làm mạng
sống, cho nên rất quư trọng đồng tiền , nay chúng ta có thể xả bỏ được
tức là trong ḷng bỏ được tính keo kiệt, ngoài mặt th́ cứu giúp được
người lúc cần gấp; lúc mới bắt đầu th́ có vẻ miễn cưỡng mà làm, nhưng
rốt cuộc xả bỏ quen rồi th́ an nhiên tự tại hành động, có thể rửa sạch
được ḷng riêng tư, vị kỷ, trừ bỏ được tính biển lận.
Thế nào là giữ ǵn bảo hộ chánh pháp?
Pháp là tai mắt có linh tính
và sinh động từ ngàn xưa hàng vạn đời truyền lại. Nếu không có chánh
pháp th́ làm sao có thể tham gia, trợ giúp sự hóa đức của thiên địa, làm
sao có thể tài bồi vạn vật, làm sao có thể thoát ly khỏi sự thúc giục
của lục trần, làm sao có những kinh điển siêu việt thời gian và không
gian để lại chỉ cho ta con đường xuất thế thoát khỏi luân hồi.
Cho nên nếu thấy các đền miếu thờ các vị
thánh hiền hay thấy các kinh điển, ta đều nên kính trọng giữ ǵn, chỉnh
trang, c̣n nói tới việc suy cử, hoằng dương chánh pháp để đền đáp ân đức
của Phật Đà th́ ta cần phải khuyến khích và phổ biến.
Thế nào là kính trọng tôn trưởng?
Đối với các vị tôn trưởng,
như ở nhà th́ có phụ huynh, trong nước th́ có vua chúa, ngoài xă hội th́
phàm những người tuổi cao, đức cao hay chức vị cao đều nên đặc biệt để ư
tôn kính phụng sự. Ở nhà thờ phụng cha mẹ phải cực kỳ hết ḷng kính mến
thương yêu, thái độ đối xử phải dịu dàng ḥa nhă, lời ăn tiếng nói phải
nhă nhặn, ôn ḥa, tập quen cho thành tính nết tốt, tạo được ḥa khí mới
là phương pháp căn bản cảm ứng với ḷng trời.
Khi làm việc quan phụng sự vua chúa, th́
bất cứ làm một việc ǵ dù nhà vua không biết tới cũng phải thận trọng
không được tự ư làm càn, khi xử án cũng vậy, không thể tự ḿnh tác oai
mà cần phải xét xử cho công bằng, minh bạch. Người xưa thường nêu gương
mẫu phụng sự vua cũng như thờ trời phải hết ḷng cung kính. Đó là chỗ
tối quan hệ tới phần âm đức.
Chúng ta hăy thử xem những gia đ́nh trung
hiếu th́ đủ rơ, con cháu họ nhiều đời đều được phát đạt thịnh vượng,
thiết tưởng cũng nên cẩn thận lưu ư.
Thế nào là tiếc mạng sống loài vật?
Phàm con người sinh ra, được
gọi là người duy chỉ ở chỗ có ḷng trắc ẩn mà thôi. Muốn cầu có ḷng
nhân hậu, muốn tích đức, đều phải do ở chỗ có ḷng trắc ẩn đă.
Theo lễ nghi nhà Chu, vào tháng đầu xuân,
tế lễ dùng tam sinh như trâu, ḅ, heo, nhưng không sát hại vật giống
cái. Mạnh phu tử nói người quân tử xa chốn nhà bếp, sở dĩ muốn bảo toàn
ḷng lân mẫn, trắc ẩn vậy, tức là không muốn nghe tiếng kêu bi thương
của con vật bị làm thịt; cho nên các vị tiền bối giữ giới tứ bất thực,
bốn thứ không ăn; nghe tiếng kêu của vật bị giết thịt, trông thấy người
ta làm thịt nó, chính ḿnh nuôi nó, hay người ta v́ ḿnh mà làm thịt nó,
bốn trường hợp đó th́ đều không ăn. Noi gương từ tâm của các vị tiền
bối, nếu chúng ta chưa có thể hoàn toàn bỏ hẳn được việc dùng thịt, th́
cũng khá nên giữ giới tứ bất thực này.
Dần dần tiến bộ, ḷng từ ngày càng gia
tăng, không những giữ được giới không sát sinh mà c̣n coi những vật nhỏ
bé động đậy ngu xuẩn hay có linh tính đều là có mạng sống cả mà không
giết hại, như việc kéo kén lấy tơ làm lụa, cày bừa đất đai chết trùng
bọ, nguyên do cũng v́ cơm ăn áo mặc mà hại chúng để nuôi dưỡng ḿnh, há
chẳng đáng thương hại hay sao, cho nên hủy hoại những vật tiêu dùng cũng
tội như sát sinh vậy; đến như v́ vô t́nh không để ư mà tay đập chân giẫm
hại không biết bao sinh vật li ti nhỏ nhoi, tưởng cũng nên t́m cách để
pḥng tránh khỏi việc ấy. Thơ cổ có nói mến chuột thường dành cơm cho
ăn, thương con thiêu thân th́ chẳng đốt đèn, để chúng khỏi chết. Thật là
từ bi nhân hậu biết bao!
Thi hành việc thiện th́ thật vô cùng,
không sao thuật hết được. Theo mười điều trên mà suy rộng ra ắt có thể
hoàn bị được hàng vạn công đức.
KHIÊM
ĐỨC
I– Măn (tự măn) có
hại, khiêm có lợi
Kinh Dịch nói thiên đạo và địa đạo không
ưu doanh (doanh măn) mà làm lợi cho khiêm (khiêm hư) là muốn biến cải
con người để tự biết sửa ḿnh, bởi thế nên phàm làm việc ǵ mà kiêu ngạo
tự măn (doanh) th́ sẽ chuốc lấy tổn thất, c̣n nhún nhường (khiêm) coi
ḿnh như không th́ lại được lợi ích, như trái núi quá cao th́ dễ bị lở,
chỗ trũng thường được nước chảy tới làm đầy; quỷ thần cũng thường gây
hại cho người tự kiêu, và làm lợi ích cho người khiêm tốn nhũn nhặn.
Khiêm hư là điều mà trời đất, quỷ thần và người đều trọng. Trong Kinh
Dịch có quẻ khiêm là một quẻ đại cát v́ lục nào cũng đều tốt cả. Kinh
Thư nói tự măn chuốc lấy tổn hại, tự khiêm được lợi ích. Theo Kinh Dịch
và Kinh Thư th́ khiêm là điều tốt nhất.
Ta nhiều lần cùng các sĩ tử đi thi, cứ
mỗi lần thấy một hàn sĩ nào mà diện mạo, dung quang biểu lộ ḷng tự
khiêm của họ một cách rơ ràng như tỏa ra một ánh hào quang có thể nắm
bắt được th́ biết ngay người ấy sẽ đỗ đạt.
Năm Tân Mùi, mở khoa thi hội ở kinh
thành, bọn chúng ta gồm có 10 người đồng hương thuộc huyện Gia Thiện
cùng đi, duy chỉ có Đinh Kính Vũ, tên Tân, tuổi trẻ nhất bọn mà cực ḱ
khiêm tốn. Ta nói với Phi Cẩm Pha, một người bạn đồng hành, là anh bạn
họ Đinh này năm nay tất nhiên trúng cử. Họ Phi hỏi thấy sao mà biết
được, th́ ta bảo rằng chỉ có khiêm hư là được phúc. Huynh coi xem trong
bọn 10 người chúng ta không ai thành tín chất phác, thực thà, nhường
nhịn người, không làm mất ḷng người như Kính Vũ cả; không ai cung kính,
thuận ḥa cẩn thận để ư khiêm nhường như Kính Vũ cả, không ai bị chế
nhạo, cười chê, chỉ trích mà chẳng hề đối đáp, tranh căi, lại cứ thản
nhiên chịu đựng như Kính Vũ cả. Con người được như thế th́ thiên địa quỷ
thần đều trợ giúp cho, há chẳng phát đạt hay sao! Kịp đến khi yết bảng
quả nhiên họ Đinh được trúng cử.
Năm Đinh Sửu, ta ở kinh cùng với Phùng
Khai Chi, thấy con người của họ Phùng cực ḱ khiêm hư, nghiêm chỉnh,
cung kính, là do thói quen tập từ thời thơ ấu biến thành. Phùng Khai Chi
có người bạn tốt tên Lư Tệ Nham thực thà, trực tính, hễ gặp điều ǵ mà
Khai Chi làm trái là nói thẳng ngay, chê trách ngay tận mặt mà Khai Chi
vẫn b́nh tâm an ḥa, thuận chịu không một lời phản đối, không để bụng
giận. Ta có bảo cho biết là họa phúc đều có triệu chứng, người được
hưởng phúc nhất định là do đă có sẵn căn nguyên của phúc rồi, có họa
cũng do triệu chứng báo trước mà có; chỉ cần tâm thực khiêm hư th́ trời
đất ắt sẽ tương trợ. Huynh năm nay nhất định cập đệ. Sau thực quả nhiên
đúng như vậy.
Triệu Dụ Phong, tên Quang Viễn, người
huyện Quán, tỉnh Sơn Đông, lúc trẻ thi hương măi không đậu. Thân phụ của
Dụ Phong được bổ làm Tam Doăn ở huyện Gia Thiện nên y tháp tùng. Ở huyện
có Tiền Kính Ngô là người có văn tài, học thức rộng. Dụ Phong ngưỡng mộ
đem văn bài của ḿnh tới nhờ chỉ giáo. Kính Ngô xem và gạch xóa, sửa bỏ
nhiều chỗ. Dụ Phong không những không buồn ḷng mà c̣n bội phục, để ư
đổi cách hành văn ngay nên năm sau đi thi được trúng cử. Đó cũng là do
biết khiêm tốn, nhũn nhặn, sửa ḿnh mà đạt thành quả.
Năm Nhâm Th́n, nhân dịp vào kinh yết kiến
hoàng đế, ta gặp Hạ Kiến Sở, thấy người này cực ḱ cung kính, nhún
nhường, ḷng khiêm hư biểu lộ rơ ràng khiến ai cũng phải nể; khi về ta
nói cùng các bạn hữu là phàm người nào được trời giúp th́ khi chưa được
phát phúc, trước hết trí tuệ sẽ được khai mở; khi trí tuệ đă mở mang th́
người phù phiếm trôi nổi, bất định sẽ tự nhiên biến thành thiết thực, sự
phóng túng tự nhiên giảm thiểu. Kiến Sở là người ôn ḥa, hiền lương như
vậy nhất định sẽ được trời cho phát phúc. Đến khi yết bảng quả nhiên
trúng tuyển.
Trương Úy Nham, người huyện Giang Âm,
tỉnh Giang Tô, là người học rộng, đọc nhiều, văn hay nổi tiếng, năm Giáp
Ngọ đi thi hương ở Nam Kinh ngụ tại một ngôi chùa nọ; khi yết bảng không
có tên nên lớn tiếng nhục mạ khảo quan là mắt không tṛng, không biết
người. Lúc đó có một đạo sĩ ở bên cạnh nghe được bèn cười. Úy Nham liền
trút cơn giận ngay sang vị đạo sĩ nọ th́ đạo sĩ nói: Chắc văn bài của
ông nhất định không được hay.
Lời nói này lại càng làm cho Úy Nham thêm
giận mắng lớn: Ngươi có đọc văn của ta đâu mà biết là không hay? Đạo sĩ
nói: Ta nghe nói hành văn quư nhất ở chỗ tâm b́nh, khí ḥa, nay thấy ông
hết lời mạ lỵ khảo quan, ḷng bất b́nh cao ngạo thật quá đáng th́ văn
làm sao mà hay được? Úy Nham nghe lời bất giác phục thiện, nhân đấy xin
thỉnh giáo đạo sĩ nọ.
Đạo sĩ nói: Trúng cử hay có công danh
hoàn toàn do số mệnh định, số chưa được đỗ th́ dù văn có hay cũng vô ích
thôi, nên tự ḿnh sửa đổi biến cải. Úy Nham nói: Đă do số mệnh như vậy
th́ làm sao sửa đổi? Đạo sĩ nói: Sáng tạo ra mệnh là do trời, lập mệnh
là do ta, gắng sức hành thiện, tích âm đức cho thật sâu rộng th́ phúc
nào mà chẳng cầu được. Úy Nham lại hỏi: Tại hạ là học tṛ nghèo th́ làm
sao làm được?
Đạo sĩ bảo: Làm việc thiện, tích âm đức
đều do tâm tạo ra, thường phải giữ vững tấm ḷng hành thiện này th́ công
đức vô lượng, chẳng hạn như chỉ một việc khiêm tốn nhũn nhặn th́ không
phải phí tiền ǵ cả, sao ngươi không tự phản tỉnh, tự trách lấy ḿnh, mà
lại mạ lỵ khảo quan ư?
Do đó, Úy Nham tự hạ ḿnh giữ ǵn tu sửa,
gia công hành thiện ngày một nhiều, gắng sức tu đức ngày một dày; đến
năm Đinh Dậu mộng thấy đi tới một ṭa nhà pḥng ốc cao, được một quyển
sổ ghi danh sách các thí sinh được trúng tuyển trong kỳ thi, thấy nhiều
hàng bỏ trống mới hỏi người ở kế bên: Xin hỏi danh sách khóa thi này,
sao lại có nhiều hàng tên bỏ trống vậy? Th́ người đó đáp rằng: Ở cơi âm
đối với danh sách thí sinh của khóa thi th́ cứ mỗi ba năm lại cứu xét
một lần, người nào tu hành, tích đức không tội lỗi ǵ th́ có tên trong
sổ, c̣n những hàng bỏ trống đều có liên quan tới việc trước đây thí sinh
đáng lẽ đă được ghi tên vào sổ nhưng sau v́ phúc bạc, phạm lỗi lầm nên
bị loại bỏ ra; sau đó lại chỉ một hàng mà bảo: Nhà ngươi trong ba năm
tới nên giữ thân tu tỉnh cẩn thận, họa may có thể được điền tên vào đấy,
mong rằng nhà ngươi nên lưu tâm đừng phạm lỗi lầm. Khóa thi năm đó, Úy
Nham trúng cử vào danh sách một trăm lẻ năm người.
II– Ḷng khiêm tốn, nhún
nhường, nguồn gốc của phúc
Theo đấy mà xét , chỉ ngửng đầu cao ba
thước ắt đă có thần minh soi xét, muốn tránh hung hiểm họa tai, hay muốn
mong được sự việc tốt lành, hẳn nhiên đều do tự ở nơi ta biết giữ lấy
thiện tâm, một mực làm lành tránh ác, không một chút nào đắc tội với
thiên địa quỷ thần, lại biết khiêm tốn nhũn nhặn, không tự cao, tự đại,
khiến thiên địa quỷ thần thường có ḷng thương mới mong có được hưởng
phúc. Người mà đầy ḷng kiêu ngạo, tự măn, nhất định khí lượng hẹp ḥi,
dù cho có phát đạt cũng chỉ một thời mà thôi, chẳng được lâu bền và cũng
chẳng được phúc. Người đă có chút kiến thức ắt phải có độ lượng rộng răi,
bụng dạ không hẹp ḥi mới không tự ḿnh bỏ lỡ cơ hội được hưởng phúc,
huống chi người khiêm tốn tự hạ ḿnh thường hay được người đời vui ḷng
chỉ đường hay lẽ phải cho, lợi ích thực vô cùng tận. Đây là điều mà
những người tu học không thể không hiểu biết và không thể thiếu được vậy.
Lời người xưa có nói: người có chí hướng
cũng như cây có gốc rễ th́ mới sinh trưởng ra hoa, ra trái. Người có chí
muốn lập công danh th́ nhất định sẽ được công danh, muốn được phú quư ắt
hẳn sẽ được phú quư. Đă lập chí th́ nên thường tự nhắc nhở lấy ḿnh cần
phải khiêm hư nhún nhường dù có chuyện thật nhỏ nhặt, đối với mọi người
cũng phải để ư cư xử nhũn nhặn th́ mới cảm ứng được với trời đất, và
cũng nên hiểu rằng việc tạo phúc là do tự ḿnh thành tâm mà tạo nên,
chẳng hạn như muốn cầu được đỗ đạt ắt phải giữ vững ư chí chân thành
buổi ban đầu, chứ không phải chỉ nay hứng chí th́ cầu, mai không hứng
th́ lại thôi.
Mạnh phu tử nói về Tề Tuyên Vương: Nhà
vua rất ưa nghe nhạc mà vui thích, đại để có thể làm cho nước Tề được
thịnh vượng. Đó là câu trích dẫn trong sách Mạnh Tử, Thiên Lương Huệ
Vương, chương cú hạ, đại ư nói nhà vua ưu thích nhạc mà lấy làm vui, đó
là niềm vui cho riêng ḿnh, sao bằng biết đem cái ḷng vui thích nhạc đó
chuyển đổi sang làm cho bách tính cũng được hoan hỷ cùng với nhà vua,
th́ dân ắt sẽ v́ vua tận lực phụng sự, nước Tề ắt phải thịnh.
Ta đối với việc khoa cử đề danh cũng tựa
như vậy, nghĩa là cũng đem ḷng chân thành cầu danh đó với ư định thiết
thực tận tâm, tận lực làm việc thiện và giúp đỡ mọi người ngơ hầu mới
biến đổi được số đă định để được hưởng phúc bởi một vận mệnh do ḿnh tự
tạo ra.