Nam Mo A Di Da Phat
 


Trích: Đường Về Cực Lạc

Soạn thuật: Hòa thượng Thượng Trí Hạ Tịnh

 Vi tính, đánh máy và trình bày: Ban biên tập  www.thondida.com

Cập nhật: 16/01/2008 - tại Melbourne - Úc Châu

 

LIÊN TÔNG CHƯ TỔ

ĐỀ MỤC

Huệ Viễn Đại Sư

1 - SƠ TỔ HUỆ VIỄN ĐẠI SƯ

Huệ Viễn Đại Sư họ Cổ, người Nhạn Môn. Lúc thơ ấu, bẩm tánh ngài rất hiếu học, đã thông Nho điển lại rất giỏi về học thuyết Lão, Trang.
Bấy giờ Đạo An Pháp Sư lập chùa ở Hằng Sơn, vân tập Tăng chúng thuyết pháp. Ngài nghe tiếng mến đức, bèn đến Hằng Sơn quy y với Pháp Sư ... Xem Tiếp

Thiện Đạo Đại Sư

2 - NHỊ TỔ THIỆN ĐẠO ĐẠI SƯ

Thiện Đạo Đại Sư người thời nhà Đường. Trong năm Trinh Quán, ngài thấy văn “Tịnh Độ Cửu Phẩm Đạo Tràng” của Đạo Xước Thiền Sư, mừng lắm nói: “Đây mới thật là con đường mau thành Phật. Tu các hạnh môn khác quanh quất khó thành ... Xem tiếp
 

Thừa Viễn Đại Sư

3 - TAM TỔ THỪA VIỄN ĐẠI SƯ

Thừa Viễn Đại Sư ban đầu học đạo với Đường Thiền Sư tại Thành Đô, kế theo học với Tân Thiền Sư ở Tứ Xuyên, sau đến Kinh Châu tham học với Chơn Thiền Sư ở Ngọc Tuyền. 
Sau khi đã đại ngộ, đạo lực đã thành, Chơn Thiền Sư bảo ngài đến Hoành Sơn ở ... Xem tiếp

 

Pháp Chiếu Đại Sư

4 - TỨ TỔ PHÁP CHIẾU ĐẠI SƯ

Pháp Chiếu Đại Sư ban đầu ngài ở chùa Vân Phong tại Hoành Châu chuyên cần tu tập.
Năm Đại Lịch thứ tư nhà Đường, ngài mở đạo tràng niệm Phật tại chùa Hồ Đông. Ngày khai hội, cảm đến mây lành giăng che, trong mây hiện cung điện, đức A Di Đà Phật và Quan Thế Âm, Đại Thế Chí hiện thân vàng sáng chói cả hư không ... Xem tiếp

Thiếu Khương Đại Sư

5 - NGŨ TỔ THIẾU KHƯƠNG ĐẠI SƯ

Thiếu Khương Đại Sư, họ Châu, người Tiên Đô. Lúc bé, câm từ khi sanh. Năm bảy tuổi, ngài theo mẹ vào chùa Linh Sơn lễ Phật. Mẹ chỉ Phật mà hỏi đùa: “Con biết ai đó không?”
Ngài bỗng đáp rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Biết là có duyên lành với Phật pháp, cha mẹ ngài bèn cho ngài xuất gia
... Xem tiếp

Diên Thọ Đại Sư

6 - LỤC TỔ DIÊN THỌ ĐẠI SƯ

Diên Thọ Đại Sư, người Tiền Đường, họ Vương, tự Xung Huyền. Thuở thiếu niên thường trì tụng kinh Pháp Hoa, cảm bầy dê quỳ mọp nghe kinh.
Lớn lên, ngài làm quan coi về việc thuế vụ cho Văn Mục Vương. Nhiều lần ngài lấy tiền công đến Tây Hồ mua cá trạnh phóng sanh ... Xem tiếp

Tỉnh Thường Đại Sư

7 - THẤT TỔ TỈNH THƯỜNG ĐẠI SƯ

Tỉnh Thường Đại Sư, người Tiền Đường, họ Nhan, tự Thứu Vi, xuất gia hồi thuở mới lên bảy.
Trong khoảng niên hiệu Thuần Hóa nhà Tống, ngài trụ chùa Nam Chiêu Khánh. Vì mộ Tịnh Độ đạo tràng ở Lô Sơn, ngài lập Liên Xã, khắc tượng A Di Đà Phật. Ngài tự chích lấy máu chép phẩm “Tịnh Hạnh” trong kinh Hoa Nghiêm ... Xem tiếp

Châu Hoằng Đại Sư

8 - BÁT TỔ CHÂU HOẰNG ĐẠI SƯ

Châu Hoằng Đại Sư, người Hàng Châu, họ Trầm, tự Phật Huệ, hiệu Liên Trì. Năm 17 tuổi đã được bổ làm Giáo thọ, có tiếng là người học hạnh gồm đủ.
Bên nhà ngụ có mụ già, mỗi tối niệm Phật vài nghìn câu làm thường khóa, Đại Sư hỏi ... Xem tiếp
 

Trí Húc Đại Sư

9 - CỬU TỔ TRÍ HÚC ĐẠI SƯ

Trí Húc Đại Sư, người Ngô huyện, họ Chung tự Ngẫu Ích.
Thân phụ thọ trì chú Đại Bi, nằm mộng thấy Quan Thế Âm Bồ Tát trao cho một đứa trẻ trai, mà sanh ra ngài.
Thuở thiếu niên ngài học nho, từng viết sách bác Phật. Sau khi được đọc bộ “Trúc Song Tùy Bút” của Liên Trì Đại Sư, ngài liền đốt quyển sách bác Phật ... Xem tiếp

Thiệt Hiền Đại Sư

10 - THẬP TỔ THIỆT HIỀN ĐẠI SƯ

Thiệt Hiền Đại Sư, người Thường Thục, triều Thanh tự Tư Tề hiệu Tỉnh Am.
Đại sư từ bé đã không ăn thịt. Sau khi xuất gia, ngài tham cứu câu: “Niệm Phật đó là ai?” được tỉnh ngộ, bèn nói: “Tôi đã tỉnh giấc mơ!” ... Xem tiếp

 

Tế Tỉnh Đại Sư

11 - THẬP NHẤT TỔ TẾ TỈNH ĐẠI SƯ

Tế Tỉnh Đại Sư người Phong Nhuận triều Thanh, họ Mã, tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường.
Thuở thơ ấu ngài học thông kinh sử. Sau khi xuất gia ngài đi học các nơi: rộng suốt cả hai tông “Tánh”, “Tướng”, tâm đắc nhứt là “Chỉ thú Pháp Hoa Tam quán” ... Xem tiếp

 


 

 

 

CỬU TỔ

TRÍ HÚC ĐẠI SƯ

Trích ở bộ:
Linh Phong Tông Luận” 

 

Trí Húc Đại Sư, người Ngô huyện, họ Chung tự Ngẫu Ích.

Thân phụ thọ trì chú Đại Bi, nằm mộng thấy Quan Thế Âm Bồ Tát trao cho một đứa trẻ trai, mà sanh ra ngài.

Thuở thiếu niên ngài học nho, từng viết sách bác Phật. Sau khi được đọc bộ “Trúc Song Tùy Bút” của Liên Trì Đại Sư, ngài liền đốt quyển sách bác Phật.

Năm 20 tuổi, ngài đọc kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, phát tâm xuất thế, mỗi ngày niệm Phật.

Năm Thiên Khải thứ nhất, tuổi hai mươi bốn, sau khi nghe một Pháp Sư giảng kinh, ngài sanh nghi tình, mới dụng tâm tham cứu. Ít lúc sau, được tỏ ngộ, ngài bèn đóng cửa thất ở Ngô Giang. Xảy mang bịnh nặng, khi ngọa bịnh, ngài nhất tâm cầu sanh Tịnh Độ. Bịnh bớt, ngài kết đàn trì chú Vãng Sanh: 

Ngài làm bài kệ phát nguyện: 

Cúi lạy A Di Đà,
Thần Chú dứt gốc nghiệp
Cùng Quan Âm, Thế Chí,
Hải chúng Bồ Tát Tăng.
Con mê bổn trí quang,
Vọng đọa luân hồi khổ
Nhiều kiếp không tạm ngừng
Không được cứu được nương.
Nay được thân là người,
Vẫn nhằm đời trược loạn,
Dầu lại dự Tăng luân,
Mà chưa nhập pháp lưu.
Mục kích chánh pháp suy,
Muốn chống, sức chưa đủ,
Chỉ vì từ đời trước
Chẳng tu thắng thiện căn.
Nay tâm con quyết định,
Cầu sanh Cực Lạc quốc,
Rồi ngồi thuyền bổn nguyện,
Vớt hết kẻ trầm luân.
Nếu con không vãng sanh,
Thời khó toại bổn nguyện.
Vì vậy với Ta Bà,
Quyết định phải thoát lìa.
Cũng như người bị trôi,
Trước cầu mau đến bờ,
Sau rồi tìm phương thế,
Ra vớt người giữa dòng.
Nay con chí thành tâm,
Thâm tâm, hồi hướng tâm,
Đốt cánh tay ba liều
Kết tịnh đàn một thất.
Chuyên trì chú Vãng sanh,
Chỉ trừ giờ ăn ngủ,
Đem công đức tu nầy
Cầu quyết sanh Cực Lạc.
Nếu con thối bổn nguyện,
Quên tưởng về Tây Phương,
Thì liền đọa địa ngục,
Để mau biết ăn năn.
Thề chẳng luyến Nhơn, Thiên
Cùng vô vi Niết Bàn.
Ngưỡng nguyện Phật oai thần,
Lực, vô úy, bất cộng
Tam Bảo đức vô biên,
Gia bị Trí Húc nầy,
Chiết phục khiến bất thối
Nhiếp thọ cho tăng trưởng.
 

          Về sau, Đại Sư rộng truyền giáo pháp Thiên Thai ở các nơi: Ôn Lăng, Chương Châu, Thạch Thành, Thành Khê, Trường Thủy và Tân An, rồi về dưỡng lão ở Linh Phong. 

          Đương thời, những nhà tu Thiền các nơi, phần đông cho pháp môn Tịnh Độ là quyền giáo, phàm gặp người niệm Phật, ắt bảo tham cứu chữ “Thùy (ai)?”. Riêng mình Đại Sư cho rằng: trì hồng danh chính là “Tâm Tông viên đốn”. 

-                     Ông Trác Tả Xa, một nhà tu thiền gạn: “Thế nào là hướng thượng nhứt lộ” của môn niệm Phật? Thế nào là rời tứ cú, tuyệt bách phi? - Cực tắc rốt sau cả của người niệm Phật là gì? – Gì là một dùi sau ót của kẻ hào hoa hư ngụy? 

-                     Trông mong Hòa Thượng dẹp duy tâm Tịnh độ, tự tánh Di Đà qua một bên. Thân kiến Như Lai cảnh giới nói mau một phen, để chấn động Đại Thiên thế giới. 

-                     Đại Sư đáp: “Hướng thượng nhứt trước” chẳng phải Thiền chẳng phải Tịnh. Vừa nói đến tham cứu, đã là quyền tạm vì kẻ hạ căn rồi. Nếu quả thiệt bực đại trượng phu tự nên tin chắc “thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật”. Nếu có một niệm cách với Phật thời chẳng đặng gọi là “niệm Phật Tam Muội”. Nếu niệm niệm không trở cách với Phật, thời cần gì gạn hỏi là “ai?”. 

Còn Cực tắc của môn Tịnh độ là: không có Phật ngoài niệm làm sở niệm của niệm, cũng không có niệm ngoài Phật năng niệm nơi Phật. Chính lúc hạ thủ, toàn thân lấn vào rời tứ cú tuyệt bách phi.

          Chỉ thấy được quang minh của đức A Di Đà Phật, chính là thấy thập phương vô lượng chư Phật. Chỉ sanh về Cực Lạc Tây Phương, chính là sanh khắp ở vô lượng Tịnh độ, đây là “hướng thượng nhất lộ” của môn niệm Phật. 

          Nếu bỏ A Di Đà hiện tiền mà đi nói tự tánh Di Đà, bỏ Tây Phương Cực Lạc mà đi nói duy tâm Tịnh độ, đó là “hào hoa hư ngụy”. 

          Kinh dạy: “tam Hiền, Thập Thánh còn ở quả báo, chỉ một mình Phật là thật ở Tịnh độ”, lời nầy là “một dùi sau ót đấy”.

          Chỉ tin chắc được môn niệm Phật nầy, rồi nương tín khởi nguyện, nương nguyện khởi hạnh, thời niệm niệm lưu xuất vô lượng Như Lai, ngồi khắp vô lượng thế giới ở mười phương mà chuyển Đại Pháp Luân, chiếu xưa suốt nay, chẳng phải là việc ngoài phần mình, há lại chỉ chấn động Đại thiên thế giới mà thôi ư?”. 

          Đại Sư từng dạy rằng: “Pháp môn niệm Phật không có gì lạ lùng cả, chỉ tin chắc rồi cố sức thực hành thôi”. 

          Phật dạy: “Nếu người nào niệm một đức Phật A Di Đà, đây gọi là “Vô Thượng Thâm Diệu Thiền”.  - Tổ Thiên Thai bảo: “Bổn môn tam muội đồng tên niệm Phật. Niệm Phật tam muội là vua trong các môn tam muội”. 

-                     Tổ Vân Thê nói: “Một câu A Di Đà Phật gồm hết tám giáo, nhiếp cả năm tông”. 

Đáng tiếc người thời nay xem niệm Phật là việc thường cho là công phu của hạng ngu phu ngu phụ. Do đó mà lòng tin không chắc, không cố sức thực hành, trọn ngày lơ lơ nên rồi tịnh nghiệp không thành. 

          Phải biết rằng một niệm hiện tiền đây vốn tự rời tứ cú tuyệt bách phi, chẳng cần tác ý rời tuyệt. Chính hiện tiền một câu Phật đương niệm đó cũng vốn siêu tình ly kiến, nhọc gì nói diệu nói huyền. Chỉ quý là tin cho chắc, giữ cho vững, rồi liền niệm đi. Hoặc ngày đêm mười vạn câu, bảy vạn câu, hoặc năm vạn, ba vạn, phải quyết định chẳng cho thiếu, thề trọn đời không biến đổi. Đúng như vậy mà không được vãng sanh Tịnh độ thời tam thế chư Phật là vọng ngữ. Được vãng sanh rồi thời trụ bực bất thối, tất cả pháp môn đều lần lượt hiện tiền. 

          Rất kỵ nay vầy mai khác. Gặp người nghĩa học thời muốn học văn luận, gặp người tu thiền lại mong tham mong cứu, gặp ngươi trì luật thời mộ khất thực trì bát… Như vậy thì ắt không rồi việc gì, trong tâm lăng xăng đủ sự. 

          Chẳng ngờ: niệm A Di Đà Phật đặng thành thục, thời tam tạng giáo lý gồm trong đó; một nghìn bảy trăm công án cơ quan hướng thượng cũng ở trong đó; ba nghìn oai nghi, tám vạn tế hạnh, tam tụ tịnh giới cũng không ra ngoài câu Phật. 

          Người chơn thiệt niệm Phật: trong thì quên thân, ngoài quên cảnh, đó là “đại bố thí”; không sanh lòng tham, sân, si là “đại trì giới”; chẳng chấp thị phi nhơn ngã là “đại nhẫn nhục”; niệm Phật không gián đoạn là “đại tinh tấn”; vọng tưởng không móng khởi là  “đại thiền định”; không bị sự khác và pháp khác làm mê lầm là “đại trí huệ”. 

          Thử kiểm điểm lấy mình, nếu chưa quên được thân tâm thế giới, còn tham, sân, si, còn thị phi nhơn ngã, còn gián đoạn, còn vọng tưởng tạp niệm, còn bị việc khác môn khác lôi kéo, thời chưa phải là “chơn thiệt niệm Phật”.

          Muốn đến cảnh giới nhất tâm bất loạn cũng không phải là có phương cách gì khác lạ, lúc mới tập niệm phải dùng xâu chuỗi ghi số rành rẽ định chắc thời khóa quyết định không thiếu.

           Lâu lâu thuần thục, không niệm mà vẫn tự niệm, bấy giờ ghi số hay không ghi số đều đặng. Nếu ban đầu vội muốn viên dung tự tại, muốn vô tướng, thời ắt niệm lực khó thành; đây là vì tin không chắc nên thực hành không cố gắng.

           Tha hồ cho ai giảng suốt mười hai phần giáo, tam tạng kinh điển, cùng thấu cả nghìn trăm công án cũng chỉ là việc bên bờ sanh tử mà thôi. Đến phút lâm chung quyết định dùng không đặng(1). 

Năm Thuận Trị thứ XI nhà Thanh mùa đông, Đại Sư có bịnh. Ngài dặn các đệ tử: sau khi trà tỳ, tán xương trộn bột chia thí cho cá chim để kết duyên Tịnh độ với chúng nó. 

          Sang năm, ngày 21 tháng giêng, Đại Sư sáng sớm dậy, khỏe khoắn tươi tỉnh như không bịnh. Đến giờ ngọ Đại Sư ngồi kiết già trên giường, xoay mặt về hướng Tây chấp tay mà tịch, thọ 57 tuổi. 

          Sau khi Đại Sư tịch ba năm, các môn nhơn hội lại định y pháp trà tỳ. Lúc mở nắp khánh, thời thấy toàn thân của Đại Sư vẫn nguyên vẹn, tóc ra dài phủ mép tai, sắc mặt như sống.

           Đại chúng không nỡ tuân lời của Đại Sư dặn, mới xây tháp thờ ở Linh Phong.

“Dưới đây là một nhà Sư cận đại sa vào chỗ hại
 các Tổ đã răn dạy trích
:
Ấn Quang Văn Sao”.

SƯ NGỘ KHAI

Sư Ngộ Khai, một pháp hữu của Ấn Quang Đại Sư, vốn là người có căn trí, song tánh Sư cao vọng và háo thắng. Ban sơ, Sư tham cứu Thiền Tông, khinh thường Tịnh độ. Ít lúc sau, nhờ Thông Trí Pháp Sư khai thị, Sư lần để tâm nơi Tịnh độ. Dầu Sư đã có lòng tin pháp môn Tịnh độ, song hành trì không chuyên, tâm cao vọng không bớt, Ấn Quang Đại Sư từng khuyên nhắc: nên thấp mình chuyên tu. Nhưng vẫn không thể vãn hồi tâm chấp định của Sư.

Sau một thời gian đó đây giảng diễn. Sư mang bịnh bèn trở về Phổ Đà. Vừa về đến núi, cùng sư huynh là Sư Nguyên Thông chuyện vãng thăm lom. Hàn huyên chưa dứt, Sư đã mệt nói chẳng ra lời. Sau giờ ngọ ngày kế thì Sư mất. Trọn không có chút điềm lành, cũng không một điểm tốt nào đủ chứng nghiệm là vãng sanh hay giải thoát cả.

Ôi! Câu: “Nghìn người khó có một giải thoát”, lời của Nhị Tổ và câu: “Chỉ là việc sanh tử, đến lúc lâm chung trọn dùng không đặng”, lời của Cửu Tổ, phải chăng là những nhát búa cho hạng tạp hạnh, phải chăng là những tiếng sấm bên tai các bực tài trí!

Mặc Am Đại sư, một đại Thiền Sư và cũng là một đại Giảng Sư triều Thanh, lúc lâm chung hỏi đại chúng: “Thế nào gọi là giải thoát?” Không ai đáp được, Đại Sư cười bảo: “Chẳng chi bằng bắt chước ông lão mụ già ăn chay, niệm Phật già dặn là được”.


(1)      Lời răn của Đại Sư  rất hiệp với lời dạy của Nhị Tổ: “Chuyên tu thời mười người vãng sanh cả mười. Còn tạp hạnh, nghìn khó được một giải thoát.  

Ôi! Tông thời thấu nghìn trăm công án, Giáo thời suốt tam tạng kinh điển, người như thế rất hi hữu, mà Đại Sư còn cho là việc nơi bờ sanh tử, đến lúc lâm chung trọn dùng không đặng thay, huống là kẻ kinh giáo qua loa, tông chỉ chẳng thấu ư! Cổ Đức nói: “Sở vị tu hành, nguyên lai kết nghiệp”. Chúng ta nên tự tỉnh tự xét, phải sớm chuyên tu mới được.

 

Trang 9