|
Năm 20 tuổi, ngài đọc kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, phát tâm xuất
thế, mỗi ngày niệm Phật.
Năm Thiên Khải thứ nhất, tuổi hai mươi
bốn, sau khi nghe một Pháp Sư giảng
kinh, ngài sanh nghi tình, mới dụng tâm
tham cứu. Ít lúc sau, được tỏ ngộ, ngài
bèn đóng cửa thất ở Ngô Giang. Xảy mang
bịnh nặng, khi ngọa bịnh, ngài nhất tâm
cầu sanh Tịnh Độ. Bịnh bớt, ngài kết đàn
trì chú Vãng Sanh:
Ngài làm bài kệ phát nguyện:
Cúi lạy A Di Đà,
Thần Chú dứt gốc nghiệp
Cùng Quan Âm, Thế Chí,
Hải chúng Bồ Tát Tăng.
Con mê bổn trí quang,
Vọng đọa luân hồi khổ
Nhiều kiếp không tạm ngừng
Không được cứu được nương.
Nay được thân là người,
Vẫn nhằm đời trược loạn,
Dầu lại dự Tăng luân,
Mà chưa nhập pháp lưu.
Mục kích chánh pháp suy,
Muốn chống, sức chưa đủ,
Chỉ vì từ đời trước
Chẳng tu thắng thiện căn.
Nay tâm con quyết định,
Cầu sanh Cực Lạc quốc,
Rồi ngồi thuyền bổn nguyện,
Vớt hết kẻ trầm luân.
Nếu con không vãng sanh,
Thời khó toại bổn nguyện.
Vì vậy với Ta Bà,
Quyết định phải thoát lìa.
Cũng như người bị trôi,
Trước cầu mau đến bờ,
Sau rồi tìm phương thế,
Ra vớt người giữa dòng.
Nay con chí thành tâm,
Thâm tâm, hồi hướng tâm,
Đốt cánh tay ba liều
Kết tịnh đàn một thất.
Chuyên trì chú Vãng sanh,
Chỉ trừ giờ ăn ngủ,
Đem công đức tu nầy
Cầu quyết sanh Cực Lạc.
Nếu con thối bổn nguyện,
Quên tưởng về Tây Phương,
Thì liền đọa địa ngục,
Để mau biết ăn năn.
Thề chẳng luyến Nhơn, Thiên
Cùng vô vi Niết Bàn.
Ngưỡng nguyện Phật oai thần,
Lực, vô úy, bất cộng
Tam Bảo đức vô biên,
Gia bị Trí Húc nầy,
Chiết phục khiến bất thối
Nhiếp thọ cho tăng trưởng.
Về sau, Đại
Sư rộng truyền giáo pháp Thiên Thai ở
các nơi: Ôn Lăng, Chương Châu, Thạch
Thành, Thành Khê, Trường Thủy và Tân An,
rồi về dưỡng lão ở Linh Phong.
Đương thời,
những nhà tu Thiền các nơi, phần đông
cho pháp môn Tịnh Độ là quyền giáo, phàm
gặp người niệm Phật, ắt bảo tham cứu chữ
“Thùy (ai)?”. Riêng mình Đại Sư cho
rằng: trì hồng danh chính là “Tâm
Tông viên đốn”.
-
Ông Trác Tả Xa, một nhà tu thiền gạn:
“Thế nào là hướng thượng nhứt lộ” của
môn niệm Phật? Thế nào là rời tứ cú,
tuyệt bách phi? - Cực tắc rốt sau cả của
người niệm Phật là gì? – Gì là một dùi
sau ót của kẻ hào hoa hư ngụy?
-
Trông mong Hòa Thượng dẹp duy tâm Tịnh
độ, tự tánh Di Đà qua một bên. Thân kiến
Như Lai cảnh giới nói mau một phen, để
chấn động Đại Thiên thế giới.
-
Đại Sư đáp: “Hướng thượng nhứt trước”
chẳng phải Thiền chẳng phải Tịnh. Vừa
nói đến tham cứu, đã là quyền tạm vì kẻ
hạ căn rồi. Nếu quả thiệt bực đại trượng
phu tự nên tin chắc “thị tâm tác
Phật, thị tâm thị Phật”. Nếu có một
niệm cách với Phật thời chẳng đặng gọi
là “niệm Phật Tam Muội”. Nếu niệm
niệm không trở cách với Phật, thời cần
gì gạn hỏi là “ai?”.
Còn Cực tắc của môn Tịnh độ là: không
có Phật ngoài niệm làm sở niệm của niệm,
cũng không có niệm ngoài Phật năng niệm
nơi Phật. Chính lúc hạ thủ, toàn
thân lấn vào rời tứ cú tuyệt bách phi.
Chỉ thấy
được quang minh của đức A Di Đà Phật,
chính là thấy thập phương vô lượng chư
Phật. Chỉ sanh về Cực Lạc Tây Phương,
chính là sanh khắp ở vô lượng Tịnh độ,
đây là “hướng thượng nhất lộ” của môn
niệm Phật.
Nếu bỏ A Di
Đà hiện tiền mà đi nói tự tánh Di Đà, bỏ
Tây Phương Cực Lạc mà đi nói duy tâm
Tịnh độ, đó là “hào hoa hư ngụy”.
Kinh dạy:
“tam Hiền, Thập Thánh còn ở quả báo, chỉ
một mình Phật là thật ở Tịnh độ”, lời
nầy là “một dùi sau ót đấy”.
Chỉ tin chắc
được môn niệm Phật nầy, rồi nương tín
khởi nguyện, nương nguyện khởi hạnh,
thời niệm niệm lưu xuất vô lượng Như
Lai, ngồi khắp vô lượng thế giới ở mười
phương mà chuyển Đại Pháp Luân, chiếu
xưa suốt nay, chẳng phải là việc ngoài
phần mình, há lại chỉ chấn động Đại
thiên thế giới mà thôi ư?”.
Đại Sư từng
dạy rằng: “Pháp môn niệm Phật không có
gì lạ lùng cả, chỉ tin chắc rồi cố
sức thực hành thôi”.
Phật dạy:
“Nếu người nào niệm một đức Phật A Di
Đà, đây gọi là “Vô Thượng Thâm Diệu
Thiền”. - Tổ Thiên Thai bảo:
“Bổn môn tam muội đồng tên niệm Phật.
Niệm Phật tam muội là vua trong các môn
tam muội”.
-
Tổ Vân Thê nói: “Một câu A Di Đà Phật
gồm hết tám giáo, nhiếp cả năm tông”.
Đáng tiếc người thời nay xem niệm Phật
là việc thường cho là công phu của hạng
ngu phu ngu phụ. Do đó mà lòng tin không
chắc, không cố sức thực hành, trọn ngày
lơ lơ nên rồi tịnh nghiệp không thành.
Phải biết
rằng một niệm hiện tiền đây vốn tự rời
tứ cú tuyệt bách phi, chẳng cần tác ý
rời tuyệt. Chính hiện tiền một câu Phật
đương niệm đó cũng vốn siêu tình ly
kiến, nhọc gì nói diệu nói huyền. Chỉ
quý là tin cho chắc, giữ cho vững, rồi
liền niệm đi. Hoặc ngày đêm mười vạn
câu, bảy vạn câu, hoặc năm vạn, ba vạn,
phải quyết định chẳng cho thiếu, thề
trọn đời không biến đổi. Đúng như vậy mà
không được vãng sanh Tịnh độ thời tam
thế chư Phật là vọng ngữ. Được vãng sanh
rồi thời trụ bực bất thối, tất cả pháp
môn đều lần lượt hiện tiền.
Rất kỵ nay
vầy mai khác. Gặp người nghĩa học thời
muốn học văn luận, gặp người tu thiền
lại mong tham mong cứu, gặp ngươi trì
luật thời mộ khất thực trì bát… Như vậy
thì ắt không rồi việc gì, trong tâm lăng
xăng đủ sự.
Chẳng ngờ:
niệm A Di Đà Phật đặng thành thục, thời
tam tạng giáo lý gồm trong đó; một nghìn
bảy trăm công án cơ quan hướng thượng
cũng ở trong đó; ba nghìn oai nghi, tám
vạn tế hạnh, tam tụ tịnh giới cũng không
ra ngoài câu Phật.
Người chơn
thiệt niệm Phật: trong thì quên
thân, ngoài quên cảnh, đó là “đại bố
thí”; không sanh lòng tham, sân, si
là “đại trì giới”; chẳng chấp thị
phi nhơn ngã là “đại nhẫn nhục”;
niệm Phật không gián đoạn là “đại
tinh tấn”; vọng tưởng không móng
khởi là “đại thiền định”;
không bị sự khác và pháp khác làm mê lầm
là “đại trí huệ”.
Thử kiểm điểm
lấy mình, nếu chưa quên được thân tâm
thế giới, còn tham, sân, si, còn thị phi
nhơn ngã, còn gián đoạn, còn vọng tưởng
tạp niệm, còn bị việc khác môn khác lôi
kéo, thời chưa phải là “chơn thiệt
niệm Phật”.
Muốn đến cảnh
giới nhất tâm bất loạn cũng không
phải là có phương cách gì khác lạ, lúc
mới tập niệm phải dùng xâu chuỗi ghi số
rành rẽ định chắc thời khóa quyết định
không thiếu.
Lâu lâu thuần
thục, không niệm mà vẫn tự niệm, bấy giờ
ghi số hay không ghi số đều đặng. Nếu
ban đầu vội muốn viên dung tự tại, muốn
vô tướng, thời ắt niệm lực khó thành;
đây là vì tin không chắc nên thực hành
không cố gắng.
Tha hồ cho ai
giảng suốt mười hai phần giáo, tam tạng
kinh điển, cùng thấu cả nghìn trăm công
án cũng chỉ là việc bên bờ sanh tử mà
thôi. Đến phút lâm chung quyết định dùng
không đặng.
Năm Thuận Trị thứ XI nhà Thanh mùa đông,
Đại Sư có bịnh. Ngài dặn các đệ tử: sau
khi trà tỳ, tán xương trộn bột chia thí
cho cá chim để kết duyên Tịnh độ với
chúng nó.
Sang năm,
ngày 21 tháng giêng, Đại Sư sáng sớm
dậy, khỏe khoắn tươi tỉnh như không
bịnh. Đến giờ ngọ Đại Sư ngồi kiết già
trên giường, xoay mặt về hướng Tây chấp
tay mà tịch, thọ 57 tuổi.
Sau khi Đại
Sư tịch ba năm, các môn nhơn hội lại
định y pháp trà tỳ. Lúc mở nắp khánh,
thời thấy toàn thân của Đại Sư vẫn
nguyên vẹn, tóc ra dài phủ mép tai, sắc
mặt như sống.
Đại chúng
không nỡ tuân lời của Đại Sư dặn, mới
xây tháp thờ ở Linh Phong.
    
“Dưới đây là một nhà Sư cận đại sa vào chỗ hại
các Tổ đã răn dạy trích :
Ấn Quang Văn Sao”.
SƯ NGỘ KHAI
Sư Ngộ Khai, một pháp hữu của Ấn Quang Đại Sư, vốn là người có căn
trí, song tánh Sư cao vọng và háo thắng.
Ban sơ, Sư tham cứu Thiền Tông, khinh
thường Tịnh độ. Ít lúc sau, nhờ Thông
Trí Pháp Sư khai thị, Sư lần để tâm nơi
Tịnh độ. Dầu Sư đã có lòng tin pháp môn
Tịnh độ, song hành trì không chuyên, tâm
cao vọng không bớt, Ấn Quang Đại Sư từng
khuyên nhắc: nên thấp mình chuyên tu.
Nhưng vẫn không thể vãn hồi tâm chấp
định của Sư.
Sau một thời gian đó đây giảng diễn. Sư mang bịnh bèn trở về Phổ Đà.
Vừa về đến núi, cùng sư huynh là Sư
Nguyên Thông chuyện vãng thăm lom. Hàn
huyên chưa dứt, Sư đã mệt nói chẳng ra
lời. Sau giờ ngọ ngày kế thì Sư mất.
Trọn không có chút điềm lành, cũng không
một điểm tốt nào đủ chứng nghiệm là vãng
sanh hay giải thoát cả.
Ôi! Câu: “Nghìn người khó có một giải thoát”, lời của Nhị Tổ và câu:
“Chỉ là việc sanh tử, đến lúc lâm chung
trọn dùng không đặng”, lời của Cửu Tổ,
phải chăng là những nhát búa cho hạng
tạp hạnh, phải chăng là những tiếng sấm
bên tai các bực tài trí!
Mặc Am Đại sư,
một đại Thiền Sư và cũng là một đại
Giảng Sư triều Thanh, lúc lâm chung hỏi
đại chúng: “Thế nào gọi là giải thoát?”
Không ai đáp được, Đại Sư cười bảo:
“Chẳng chi bằng bắt chước ông lão mụ già
ăn chay, niệm Phật già dặn là
được”.
|