Năm 32 tuổi xuất gia, ngài
đến học với Biện Dung Thiền Sư, Tiếu
Nham Thiền Sư, tham cứu câu “Niệm
Phật đó là ai?” được tỉnh ngộ.
Năm Long Khánh thứ năm, nhà Minh, Đại Sư khất
thực ở Vân Thê, thấy cảnh núi u nhã bèn cất am
ở, trong núi có nhiều cọp dữ. Đại Sư hành Du Già
Diệm Khẩu, cọp không khuấy hại người.
Năm đó trời nắng hạn. Người xứ ấy cầu Đại Sư đảo
võ. Ngài nói: “Tôi chỉ biết niệm Phật, không tài
nghề gì khác”. Mọi người cố thỉnh, Đại Sư cảm
lòng thành khẩn của dân chúng, bèn tay cầm mõ,
đi bộ theo bờ ruộng mà niệm Phật. Mưa to liền
xối xuống. Dân chúng vui mừng kính đức, cùng
nhau hiệp sức cất chùa xây điện. Tăng chúng quy
tụ, không mấy lúc mà thành cảnh tòng lâm lớn.
Đại Sư chủ trương Tịnh độ Cực lạc bác bỏ cuồng
thiền. Ngài trứ tác bộ “Phật Thuyết A Di Đà
kinh sớ sao”, dung hội cả sự lẫn lý, lợi
khắp ba căn rất là uyên áo.
Đại Sư một mặt chuyên tu Tịnh độ và giáo hóa
người, một mặt thường thực hành các điều thiện
để tư trợ tịnh nghiệp: thẩm định nghi “Thủy Lục”
và văn “Du Già Diệm Khẩu” để cứu khổ u minh,
khai ao phóng sanh, và làm văn giới sát.
Năm Vạn Lịch thứ 40, cuối tháng sáu, Đại Sư đi
vào thành từ biệt các đệ tử và những người cố
cựu rằng: “Tôi xắp đi nơi khác”. Rồi ngài trở về
đãi trà từ biệt đại chúng. Mọi người không hiểu
cớ gì.
Chiều mùng một tháng 7, Đại Sư vào nhà Tăng nói:
“Ngài mai tôi đi”.
Qua chiều hôm sau, Đại Sư kêu mệt rồi vào tư
thất đoan tọa nhắm mắt. Tăng chúng và các đệ tử,
các người cố cựu trong thành đều hội đến.
Đại Sư mở mắt ra nhìn mọi người mà bảo rằng:
“Đại chúng phải niệm Phật cho chín chắn, chớ
nghi ngờ cũng đừng phá hoại quy củ của tôi”. Dặn
xong, Đại Sư chấp tay hướng về Tây Phương, xướng
hồng danh của Phật mà tịch, thọ 81 tuổi.





PHỤ
VẤN ĐÁP
Trích: “Vân Thê Pháp Vị”
Ông Tào Lỗ Xuyên hai phen gởi thơ đến Vân Thê
gạn, Đại Sư hai phen phúc đáp. Nay trích đoạn
đối đáp có liên quan với tông chỉ Tịnh độ:
Lỗ Xuyên – Kinh Hoa Nghiêm
thuộc vô thượng nhứt thừa Viên giáo, ngài
cho kinh Di Đà cùng đồng hàng, in tuồng như
không được đúng. Và do đây nên có người làm
luận, gác Tịnh độ trên Hoa Nghiêm. Xin ngài, với
cơ Tịnh Độ dạy Tịnh Độ còn với cơ Hoa Nghiêm dạy
Hoa Nghiêm. Như thế Phật pháp mới được lưu
thông, truyền đủ ngũ giáo nhiếp cả ba căn.
Đại sư – Hoa Nghiêm đủ vô lượng môn, cầu
sanh Tịnh Độ là một môn trong vô lượng môn,
trong bộ sớ sao, tôi cho rằng “Hoa Nghiêm cực
Viên, kinh Di Đà đặng ít phần viên”, chính là
tôi nói kinh Di Đà là quyến thuộc của Hoa Nghiêm
thôi, Hoa Nghiêm như Vua ai dám đem thượng thơ
bộ trưởng gác trên Quốc Vương? Người nào làm
luận ấy? Ông bảo tôi nên tùy cơ, ý đó rất hay,
nhưng có 2 nghĩa:
A-
Nghìn
cơ đều chiều dạy, đó là việc của đức Như Lai
xuất thế, sức tôi chưa làm được. Vì thế nên Tổ
Tào Khê chỉ chuyên truyền môn Trực chỉ thiền,
chẳng lẽ Tổ không thông giáo pháp khác. Nhẫn đến
Vân Môn, Tào Động v.v… các Tổ đều lập môn đình
riêng, chỗ dạy người đều riêng biệt, Chư Tổ còn
như thế, huống tôi là hạng phàm ư! Nếu vọng bắt
chước Phật, e rằng muốn lợi cho người mà trở
thành hại người. Chỉ có Phật mới là đấng Pháp
Vương, với tất cả pháp được tự tại. Bình dân
muốn
mạo hiệu Quốc Vương tất khó khỏi tai vạ.
B-
Giảng
Hoa Nghiêm tất gồm Tịnh Độ, Giảng Tịnh Độ cũng
thông Hoa Nghiêm. Vì thế nên người giảng Hoa
Nghiêm thời cứ tự giảng Hoa Nghiêm, còn người
giảng Tịnh Độ thời cũng cứ giảng Tịnh Độ, vẫn
không có gì trái ngại nhau cả. Vả lại kinh Hoa
Nghiêm do Long Thọ Bồ Tát chép ra mà ngài vãng
sanh Tịnh Độ. Văn Thù và Phổ Hiền là hai vị Đại
Thánh trong pháp hội Hoa Nghiêm, mà hai ngài đều
có lời nguyện về Cực Lạc và cũng khuyên cả pháp
chúng đồng nguyện. Ông tôn sùng Hoa Nghiêm mà
chê Tịnh Độ, há lại không trái với hạnh nguyện
của ba vị Hoa Nghiêm đại Bồ Tát ấy ư! Thiệt tôi
không thể hiểu được…
Lỗ
Xuyên: - Tề Kỷ Thiền Sư bảo: “Người cầu về Tây Phương là bỏ cha
trốn chạy, đụng Đông chạm Tây, lưu lạc xứ người,
khổ thay A Di Đà Phật!” Lời ấy há không ý nghĩa.
Đại sư: -
Ông
nên đáp lại với Thiền Sư như vầy: “Chính nay bèn
là như con nhớ mẹ trở về gia hương, bỏ Đông đặng
Tây, vui thay A Di Đà Phật!”
Lỗ Xuyên: -
Người
đại ngộ nói: “Nhiều kiếp tu hành khổ sở chẳng
bằng trong một niệm chứng vô sanh pháp nhẫn. Một
niệm duyên khởi vô sanh vượt hơn bực quyền học
trong tam thừa”. Huống là không luận tam thừa
hay nhứt thừa đều vô ngã, vô ngã sở. Nay người
sanh Tịnh Độ thời mình là năng sanh, độ là sở
sanh, năng sở rõ ràng tất thành diệt. Nếu đợi
“Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh” thời thành lâu
chậm.
Đại sư:
- Ông
đã chứng vô sanh pháp nhẫn chưa? Nếu đã chứng
thời tất không nên cho rằng: mình là năng sanh,
tịnh độ là sở sanh. Vì tâm tức là độ thời ai là
năng sanh? Còn độ chính là tâm thời gì là sở
sanh? Vãng sanh mà không thấy năng sanh sở sanh,
dầu sanh mà vẫn vô sanh đây mới là chơn vô sanh.
Còn bỏ sanh mà nói vô sanh thời là đoạn diệt
không, chớ chẳng phải chánh lý vô sanh vậy. Ông
đã thấu Thiền Tông há chẳng hiểu rằng: “Từ mê
đặng giác ngộ, như nằm mê chợt tỉnh, như hoa sen
nở”
ư?
Người niệm Phật, có người hiện đời nầy thấy Phật
kiến tánh, đó là hoa nở hiện tiền. Có người sau
khi sanh về Cực Lạc mới thấy Phật kiến tánh, đó
là hoa nở về sau. Do công tu có siêng cùng trể,
căn cơ có lợi cùng độn, nên hoa nở có sớm có
muộn. Đâu nên cho là chậm lâu cả.
Lỗ
Xuyên: -
Vừa rồi có đồ đệ của ngài từ Vân Thê qua Tô
Châu, tôi luận đến thiền cơ thượng thừa thời va
mắt sửng lòng kinh hoặc và không tin mà cười. Đó
là lỗi của trò hay lỗi nơi thầy ư? Phàm bực
trượng phu khí võ xung thiên lấy độ sanh làm
phận sự gấp. Ngài đã xuất thế đã khai đường, đã
phu tọa, mà chẳng đủ quyền năng của bực Đại
nhơn, chỉ có cử chỉ của ông lão mụ già ăn chay.
Một mai bị người thông minh gạn hỏi, hay bị nhà
trí thức bẻ bác, chừng ấy toan trốn lên mây ẩn
vào núi ư?...
Đại sư: -
Ở trước ông dạy tôi với cơ Hoa Nghiêm thời
truyền Hoa Nghiêm, với cơ Tịnh Độ thời truyền
Tịnh Độ. Nay sao đối với ông Tăng ở núi hoang
nào đó, vốn là kẻ ở vào hạng độn căn hạp với môn
Tịnh Độ, mà ông lại đem thiền cơ thượng thừa gạn
va, làm cho va mắt sửng lòng kinh trở lại cười
ông, đó có phải ông tự phạm vào lỗi “cho thuốc
không trúng bịnh” ư!
Lão
Tăng nầy từ nào chẳng dám tự xưng xuất thế độ
đời, lẽ tất nhiên là chưa đủ quyền năng của bực
đại nhơn. Ông lại chê người tu Tịnh độ là “ông
lão mụ già ăn chay”. Cổ Đức từng nói: như thế
chẳng phải là chê hạng ngu phu ngu phụ mà chính
là chê đại Bồ Tát: Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh,
Long Thọ, nhẫn đến Thiên Thai, Viễn Công, Thiện
Đạo, Vĩnh Minh v.v… chư đại Tổ Sư. Các bực ấy là
ông già ăn chay cùng là mụ già ăn chay đấy ư?
Các ông: Lưu Di Dân, Bạch Thiếu Phó, Liễu Liễu
Châu, Tô Trường Công v.v…
chư Đại cư sĩ ấy là ông lão mụ gì ăn chay đấy ư?
Dầu là ông
lão mụ già ăn chay, nhưng niệm Phật được vãng
sanh liền đặng trụ bực bất thối chuyển, liền
đặng ngự tòa sen dự hàng Thánh, đâu nên khinh
bỉ! Vả ông lão mụ già chỉ biết ăn chay niệm Phật
giữ kỹ tâm hạnh mà cho là hạng ngu cũng được.
Còn như người thông minh trí thức mà luận suông
Bát nhã, ăn cá thịt cho no rồi đi tìm các ông
Tăng để hỏi thiền hỏi lý, đó chính là ma vậy.
Người ngu quý nơi an phận ngu, chúng ta thà làm
ông lão ăn chay niệm Phật hay là bà già ăn chay
niệm Phật, chớ chẳng nên làm ma dân cùng ma nữ
vậy.
Đến như thế
có kẻ thông minh hay nhà trí thức nào đến bẻ
bác, thời không cần phải lên mây vào núi, ông
lão mụ già ấy cứ đặt giường ngay họng kẻ thông
minh, cùng trải chiếu nơi tròng mắt nhà trí thức
đó là xong. Để chi vậy? Để bảo va tạm bỏ nói lý
luận thiền suông mà tự phản chiếu hồi quang
thiệt tu thiệt hành vậy.
LỜI PHỤ: -
Trước Bát Tổ, các Tổ Sư dầu hoằng truyền Tịnh
Độ, nhưng một mặt vẫn không bỏ Thiền Tông. Chỉ
Bát Tổ là một Thiền Sư được chánh thức ấn khả
nơi Tiếu Nham Thiền Sư, Tổ dòng chánh của Lâm Tế
Tông, trở lại chủ trương Tịnh độ, mà cực lực bài
xích cuồng thiền. Vì thế nên các nhà thiền học
đương thời rất không bằng lòng mới thành có
những sự tranh biện như thế.