|
 |
DIÊN THỌ ĐẠI SƯ
Trích ở những bộ:
“Lạc Ban Văn Loại”
“Vạn thiện đồng quy tập”
Diên Thọ Đại Sư,
người Tiền Đường, họ Vương, tự Xung Huyền.
Thuở thiếu niên thường trì tụng kinh Pháp
Hoa, cảm bầy dê quỳ mọp nghe kinh.
Lớn lên, ngài làm quan coi về việc thuế vụ
cho Văn Mục Vương. Nhiều lần ngài lấy tiền
công đến Tây Hồ mua cá trạnh phóng sanh.
Việc lấy tiền công bị phát giác. Hình quan
thẩm định tội của ngài đáng xử tử. |
Lúc dẫn
ngài đem đi chém, Văn Mục Vương bí mật sai người
theo rình xem gương mặt, nếu có vẻ lo sợ buồn thảm
thời cứ chém, còn nếu ngài vẫn vui vẻ thản nhiên
thời phải đem ngài về trình lại. Thấy từ lúc dẫn đi
cho đến lúc xắp sửa chém, nét mặt của ngài vẫn không
có lộ vẻ sợ buồn mà lại có vẻ hân hoan là khác. Sứ
giả liền truyền lịnh của Văn Mục Vương cho quan giám
trảm rồi đem ngài về ra mắt Vương.
Vương hỏi:
“Ông không sợ chết chém ư?”
Ngài đáp:
“Tôi tư dụng của công khố một số tiền lớn, tội đáng
chết, nhưng toàn bộ số tiền đó tôi dùng mua chuộc
muôn ức sanh mạng. Tôi tin rằng do công đức phóng
sanh ấy, dầu thân này có chết, tôi sẽ được vãng sanh
Cực Lạc Tịnh Độ. Vì thế nên tôi không lo sợ.
Văn Mục
Vương cảm động bèn ra lịnh tha bổng. Ngài xin xuất
gia, Vương bằng lòng.
Ngài đến
Tứ Minh thọ pháp với Túy Nham Thiền Sư. Sau ngài
tham học với Thiều Quốc Sư ở Thiên Thai phát minh
tâm yếu, được Thiều Quốc Sư ấn khả.
Ngài từng
tu “Pháp Hoa sám” ở chùa Quốc Thanh. Trong lúc thiền
quán, thấy đức Quan Thế Âm Bồ Tát rưới nước cam lộ
vào miệng, từ đó ngài đặng biện tài vô ngại.
Ngài dầu
tu “Thiền”, song lòng rất mộ “Tịnh”. Vì muốn có chỗ
chuyên chủ, ngài bèn đến thiền viện của Trí Giả Đại
Sư làm hai lá thăm: một lá đề “Nhứt tâm thiền
định”, một lá đề “Trang nghiêm tịnh độ”. Rồi ngài
chí thành hướng Tam Bảo mà rút thăm. Luôn bảy lần
đều rút nhằm lá “Trang nghiêm tịnh độ”. Từ đây ngài
nhứt tâm tu tịnh nghiệp.
Năm Kiến
Long thứ hai, nhà Tống, Trung Ý Vương thỉnh ngài trụ
trì chùa Vĩnh Minh,
tôn hiệu là Trí Giác Thiền Sư. Ngài ở Vĩnh Minh 15
năm, độ được 1.700 vị Tăng.
Mỗi ngày
đêm, Đại Sư công khóa 108 việc. Đại sư thường
truyền Bồ Tát giới, mua thả sanh mạng, thí thực quỷ
thần, tất cả công đức đều hồi hướng Tịnh độ.
Ban đêm ngài qua gộp núi khác niệm Phật, lấy số mười
vạn câu làm chừng. Những người ở chỗ gần ngài niệm
Phật có lúc nghe tiếng loa bối thiên nhạc du dương.
Về phần kinh Pháp Hoa, trọn đời ngài tụng được một
muôn ba ngàn bộ. Ngài có trứ tác bộ “Tông Cảnh Lục”
100 quyển, hội chỉ thú đồng dị của ba tông: Hoa
Nghiêm, Pháp Hoa và Duy Thức.
Ngài có
viết tập “Vạn Thiện Đồng Quy”, trong tập này, về
đoạn chỉ quy Tịnh độ, lời lẽ thiết yếu, đại lược như
dưới.
Hỏi: Duy tâm tịnh độ cùng khắp mười phương, sao lại móng tâm thủ xả, mà
cầu thác sanh liên đài, gởi thân Cực Lạc. Như thế
đâu hiệp môn vô sanh, và đã có tâm nhàm uế thích
tịnh thời đâu thành bình đẳng?
Đáp: Sanh về duy tâm Tịnh độ là phần của bực liễu đạt tự tâm, Kinh “Như
Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới” nói: “Tất cả tam thế chư
Phật đều duy tâm lượng, đặng tùy thuận nhẫn, hoặc
nhập sơ địa, xả thân mau sanh Cực Lạc quốc độ”.
– Do đây mà biết rằng người đạt tự tâm mới sanh duy
tâm Tịnh độ, còn hàng chấp cảnh chỉ thuộc trong cảnh
sở duyên. Đã có nhơn quả không sai, mới rõ ngoài tâm
không thật pháp.
Lại môn
bình đẳng cũng chỉ thú vô sanh, dầu tin theo lời
Phật, nhưng ngặt vì lực lượng chưa đủ, quán trí cạn,
tâm tưởng thô, trần cảnh mạnh, tập khí nặng, cần
phải sanh Tịnh độ, để được nương nơi duyên thù
thắng, nhẫn lực mới dễ thành, mau viên mãn Bồ Tát
đạo.
Thập Nghi
Luận nói: Người trí dầu mạnh mẽ cầu sanh Tịnh độ,
nhưng đạt được lý sanh thể bất khả đắc, tức là chơn
vô sanh. Đây là nghĩa “vì tâm tịnh mà Phật độ tịnh”.
Người ngu bị “sanh”, nó trói buộc: nghe “sanh” liền
cho là “sanh”, nghe “vô sanh” liền cho là “vô sanh”,
mà chẳng hiểu lý: "Sanh là vô sanh, vô sanh là
sanh", nên rồi thị phi với nhau. Đây là kẻ tà kiến
báng pháp.
Hỏi: Ngoài tâm không pháp, Phật không khứ lai, sao lại có việc thấy Phật
và Phật đến rước?
Đáp: Duy tâm niệm Phật, dùng duy tâm quán khắp cả vạn pháp. Đã rõ cảnh
là tâm, biết tâm là Phật, cho nên niệm đâu cũng là
Phật cả.
Kinh Bát
Chu Tam Muội nói: “Như người nằm mộng thấy thất bảo,
và quyến thuộc vui vầy. Thức dậy nhớ nghĩ lại, chẳng
biết cảnh sang giàu vừa thấy đó ở đâu. Niệm Phật
cũng như vậy”.
Đây là dụ
cho “cảnh” do “tâm” làm ra, chính có mà là không,
cho nên không Phật, cũng không lai, khứ. Lại “như
huyễn không thật, thời tâm và Phật đều bặt”. Mà
“chẳng phải là không huyễn tướng, thời tâm và Phật
rõ ràng”. “Không” và “có” đã vô ngại, nên chính
không khứ lai nhưng chẳng ngại gì thấy Phật đến.
Đương thấy chính là không thấy, thường hiệp với
trung đạo. Vì thế nên Phật thiệt không đến, tâm cũng
chẳng đi, nhưng cảm ứng đạo giao duy tâm tự thấy.
Như người gây tội nặng, cảm tướng địa ngục. Duy Thức
luận nói:
- “Tất cả như người địa
ngục đồng thấy ngục tốt v.v… làm những sự khổ hại
cho mình”. -Vì lẽ đó, nên đều là do tâm ác nghiệp
của kẻ gây tội hiện ra, trọn không có chó đồng rắn
sắt thiệt ở ngoài tâm. Tất cả sự, tất cả pháp trong
đời cũng đều như thế cả.
Hỏi: Quán kinh dạy 16 pháp quán, đều là nhiếp tâm tu định, quán tướng
hảo của Phật cho đặng thấy rõ ràng đều đủ mới bước
đến cõi Tịnh. Người tán tâm làm sao vãng sanh được.
Đáp: Cực Lạc chín phẩm có cao và thấp, nhiếp cả các hạng: thượng, trung
và hạ, nhưng không ngoài 2 tâm này:
A -
“Định
tâm”, tu tập định quán thời thượng phẩm vãng
sanh.
B -
“Chuyên
tâm”, chỉ chuyên niệm danh hiệu cùng thực hành
các điều thiện, rồi hồi hướng phát nguyện thời đặng
thành phẩm dưới. Nhưng cần phải trọn đời chuyên
cần. Lúc ngồi nằm đều phải xoay mặt hướng Tây.
Trong những lúc hành đạo, lễ kính, hồi hướng, phát
nguyện phải thiết tha cầu khẩn, lòng không
xao lãng. Như đương bị ngục tù, như đương bị
giặc bắt, như đương bị trôi, bị cháy, nhứt tâm cầu
Phật cứu, nguyện thoát khỏi biển khổ sanh tử sanh về
Tịnh độ, mau chứng vô sanh độ khắp mọi loài, để nối
thạnh ngôi Tam Bảo, đền đáp bốn ơn. Nếu ai chí thành
được như vậy thời quyết đặng kết quả.
Như hoặc
ngôn hạnh không xứng đáng, tín nguyện yếu kém, tâm
không chuyên nhất, không nối luôn mà thường có ý xao
lãng. Giãi đãi như vậy, đến lúc lâm chung cầu sanh,
e rằng nghiệp chướng trở ngăn khó gặp thiện hữu.
Thân bị bức rức đau khổ khó giữ vững chánh niệm. Vì
hiện tại đây là “nhơn”, lúc lâm chung là “quả”. Nếu
lo “nhơn cho chắc thiệt” thời “quả
quyết không hư luống”. Như tiếng hòa nhã thời
vang dịu dàng. Như hình ngay thời bóng thẳng.
Như muốn
đến lúc lâm chung thập niệm thành tựu, thời hiện tại
phải lo sắm sửa trước chuyên tâm niệm Phật, chứa
nhóm công đức, hồi hướng cầu vãng sanh, niệm niệm
không quên Phật, không rời Cực Lạc. Như thế mới
chắc chắn mà khỏi lo ngại.
Vả, hai
đường: “thiện” và “ác”, hai báo: “khổ” và “vui” đều
là do ba nghiệp (thân, khẩu, ý) gây nên.
Nếu tâm sân hận, tà dâm: đó là nghiệp Địa ngục.
Bỏn sẻn tham lam không xả thí: đó là nghiệp Ngạ quỷ.
Đần độn ngu si: là nghiệp Súc sanh.
Ngã mạn cống cao: là nghiệp Tu La.
Kiên trì ngũ giới: là nghiệp Người.
Ròng tu thập thiện: là nghiệp Trời.
Chứng ngộ nhơn không: là nghiệp Thanh Văn.
Thấu rõ duyên sanh vô tánh: là nghiệp Duyên Giác.
Tu trọn lục độ: là nghiệp Bồ Tát.
Chơn từ bình đẳng: là nghiệp Phật.
Nếu tâm
niệm thanh tịnh thời đài vàng hoa báu, hóa sanh nơi
Tịnh độ. Còn tâm niệm nhơ đục thời gò nổng hầm hố,
thọ thai nơi cõi uế. Đây đều là “quả đẳng luân”, cảm
lấy “duyên tăng thượng”. Cho nên nhơn cùng quả, rời
ngoài tâm nguyên, không có tự thể riêng khác. Muốn
đặng quả báo thanh tịnh thời phải thực hành nhơn
hạnh thanh tịnh. Như nước thời tánh chảy xuống, lửa
thời tánh bốc lên, thế tất nhiên như vậy, có gì mà
nghi ngờ.
Lại vì
người học đạo thời bấy giờ, phân vân nơi “Thiền” và
“Tịnh”, chưa biết nên tu theo môn nào là hơn và chắc
chắn, nên ngài có bốn bài kệ để so sánh sự lợi hại
của hai môn.
I - Có
Thiền mà không Tịnh độ,
Mười tu, chín kẻ dần dà,
Ấm cảnh nếu hiện tiền,
Thoạt theo nó mà đi.
II -
Không Thiền mà có Tịnh độ,
Mười người tu, mười vãng sanh.
Đặng gần Phật Di Đà
Lo gì không khai ngộ.
III - Có
Thiền lại có Tịnh Độ
Như cọp mạnh lại thêm sừng.
Hiện đời làm thầy người,
Đời sau làm Phật, Tổ.
IV -
Không Thiền cũng không Tịnh độ,
Giường sắt cột đồng đang chờ.
Muôn kiếp cùng nghìn đời,
Không chỗ nương tựa được
Nhà Tống,
năm Khải Bửu thứ tám, ngày 26 tháng 2, sáng
sớm dậy, ngài thắp hương lễ Phật. Lễ xong, ngài nhóm
đại chúng lại dặn dò răn dạy, rồi ngồi kiết già trên
pháp tọa mà thị tịch, thọ 72 tuổi.
Ít lúc sau
có ông Tăng từ Lâm Xuyên đến chùa Vĩnh Minh, trọn
năm lễ tháp của Đại Sư. Người gạn hỏi, ông Tăng ấy
đáp: “Năm trước tôi có bịnh, thần thức vào u minh,
thấy phía bên điện có thờ tượng một vị Hòa Thượng.
Minh Vương cung kính lễ lạy. Tôi hỏi nguyên do, mới
biết đó là tượng của Diêm Thọ Thiền Sư ở chùa Vĩnh
Minh tại Hàng Châu, ngài đã vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới bực thượng thượng phẩm. Minh Vương
trọng đức, nên thờ kính ngài”.
Trang 6