Cần khổ tự tu và siêng dạy người, trải ba
mươi năm tṛn, ngài không ngủ nghĩ.
Ngài lại được giới hạnh tinh nghiêm, không hề sai phạm, dầu là lỗi
nhỏ.
Khi được dưng cúng thực phẩm, món ngon tốt thời ngài bảo đem dọn cho
chúng dùng, c̣n phần ngài chỉ dùng thứ xấu
dở mà thôi.
Bao nhiêu tài vật của đàn tín thí cho, ngài dùng tả được hơn mười
vạn bổn kinh Di Đà, họa cảnh tịnh độ được ba
trăm bức. Ngoài ra thời dùng vào việc sửa
sang chùa tháp, thấp đèn nối sáng, không để
dư một mảy.
Kẻ Tăng người tục đến quy đầu với ngài rất đông, lấy số vạn mà tính.
Mọi người cảm đức giáo hóa của ngài, nên ai
ai cũng đều tinh tấn tu tŕ cả: Người thời
tụng kinh Di Đà từ mười vạn biến đến năm
chục vạn biến. Kẻ thời mỗi ngài đêm niệm
Phật từ một vạn đến mười vạn câu. Những
người hiện tiền chứng tam muội, lúc lâm
chung được văng sanh có thoại ứng, đông
không thể kể xiết.
Có người hỏi: “Niệm Phật chắc được văng sanh ư?”.
Ngài đáp: “Ông gắng niệm Phật th́ sẽ được toại nguyện”.
Đáp xong, ngài tự niệm: “A Di Đà Phật”, liền có một tia sáng từ
trong miệng ngài theo tiếng niệm mà xẹt ra.
Ngài niệm mười câu đến trăm câu, cứ mỗi câu
là xẹt ra một tia sáng dài nối tiếp nhau làm
sáng rực cả chùa.
Sự thần dị nầy truyền đến triều đ́nh vua Cao Tông phụng một tấm biển
để hiệu chùa là “Quang Minh Tự”.
Ngài có bài kệ khuyên đời như vầy:
Lần lần tóc bạc da mồi
Thắm thoát bước đi lụm cụm
Dẫu rằng: vàng ngọc đầy nhà
Đâu khỏi: già suy bịnh khổ
Mặc ông sung sướng đủ điều
Cái chết nó rồi cũng đến
Duy có đường tắt tu hành
Chỉ niệm: “A Di Đà Phật”.
Có người gạn: “Sao Ḥa Thượng không dạy
người
quán tưởng Phật, mà chỉ bảo người tŕ danh
hiệu Phật thôi”.
Ngài đáp: “Chúng sanh nghiệp chướng nặng nề,
tâm thời thô phù mà cảnh Thánh rất tế diệu.
T́nh thức rộn ràng khó thành tựu quán trí
được. V́ lẽ đó nên đức Phật xót thương
khuyên người chuyên xưng danh hiệu”.
Chính v́ xưng danh hiệu là hạnh dễ làm nên
nơi tâm mau được tương tục. Nếu có thể niệm
niệm tương tục măi đến trọn đời, thời mười
người niệm, mười người văng sanh, trăm người
niệm trăm người văng sanh.
Tại sao mà được như vậy?
V́ không có tạp duyên nên được chánh niệm.
V́ tương ưng với bổn nguyện của Phật A Di
Đà. V́ không trái kinh giáo. V́ thuận theo
lời Phật dạy.
Nếu bỏ hạnh chuyên niệm Phật, mà tu nhiều
hạnh nghiệp xen tạp khác, thời trăm ngh́n
người tu khó có được ba bốn người giải
thoát.
Tại sao vậy?
V́ tạp duyên loạn động nên mất chánh niệm.
V́ không tương ưng với bổn nguyện của Phật.
V́ trái với kinh giáo. V́ không thuận theo
lời Phật dạy. V́ nhiếp niệm không được tương
tục. V́ tâm không thường nhớ ơn Phật. V́ dầu
thực hành Phật sự mà thường tương ưng với
danh lợi. V́ thích đeo theo việc tạp làm
chướng ngại chánh hạnh văng sanh của tự ḿnh
và của người.
Ngày gần đây, thấy những hàng Tăng tục các
nơi giải hạnh không đồng nhau: người thường
chuyên tu, kẻ thích tạp hạnh.
Nếu chuyên tâm niệm Phật thời quyết định
mười người văng sanh cả mười. C̣n tạp hạnh
mà không chí tâm, thời ngàn người tu khó
được một giải thoát.
Trông mong mọi người nên suy xét cho chín
chắn, đi đứng nằm ngồi, đều nên kềm tâm
nhiếp niệm khắn chặt nơi Phật, ngày đêm chớ
để hở, thệ quyết đến hơi thở cuối cùng. Nếu
niệm trước mạng chung, niệm sau liền sanh
Cực Lạc. Từ đây vô lượng vô biên a tăng kỳ
kiếp thọ hưởng pháp lạc vô vi nhẫn đến thành
Phật, như thế há lại không đáng sướng thích
lắm ư!
Ngài từng dạy phương pháp trợ chánh niệm cho
người lúc lâm chung:
-
Phàm người lúc lâm chung muốn sanh về Tịnh
độ, cần nhứt chẳng đặng sợ chết. Nên tự suy
nghĩ như vầy: báo thân này là gốc khổ. Nó là
đăy da đựng đầy đồ dơ nhớp.
Nó là gốc của tất cả sự khổ lụy. Nếu ta rời
được đống thịt
hôi thúi nầy mà siêu sanh tịnh độ, thọ thân
vàng kim cương, hưởng vô lượng sự vui thanh
tịnhoát hẳn sanh tử luân hồi. Như cỡi áo
rách mà đổi lấy trân phục, c̣n ǵ thích ư
cho bằng.
Suy nghĩ như thế rồi liền phóng hạ thân tâm, đừng có quan niệm tham
luyến. Vừa mang phải bịnh, bèn quán vô
thường nhất tâm niệm Phật chờ chết.
Lại cần phải dặn người nhà và người đến thăm, hễ khi đến gần ḿnh
thời v́ ḿnh mà niệm Phật. Nhất quyết không
được nói chuyện đời nọ kia, cùng việc nhà
việc cửa. Cũng chẳng cần cầu chúc an ủi, v́
đều là sự hư hoa vô ích cả.
Nếu bịnh ngặt xắp chết, quyến thuộc chẳng được khóc than, không được
mắt mũi sụt sùi, làm loạn động tâm thần, hư
mất chánh niệm của người bịnh. Chỉ nên nhắc
nhở nhớ Phật, niệm Phật, tưởng Phật, cùng
rập nhau to tiếng niệm Phật, để giúp chánh
niệm cho người bịnh.
Như vậy luôn cho đến lúc người bịnh
dứt hơi thở. Nhưng cũng chẳng nên vội động
đến thây, phải luân phiên niệm tụng càng lâu
càng tốt.
Lúc bịnh cho đến lúc chết, nếu được có người hiểu rành pháp môn Tịnh
độ thường đến nhắc nhở chỉ bảo thời may mắn
lắm.
Dùng phương pháp trợ niệm ấy thời quyết được văng sanh không c̣n
nghi ngờ ǵ nữa.
Việc chết là sự rất lớn, cần phải tự ḿnh gia công, gắng sức mới
đặng. Một niệm sai lầm ắt phải chịu khổ
nhiều đời nhiều kiếp, ai thay thế cho ḿnh
được! Nên tự xét lấy! Nên tự nghĩ lấy!
Một hôm, ngài vội bảo mọi người rằng: “Thân này đáng nhàm, ta xắp
sửa về Cực Lạc”.
Rồi ngài tự leo lên ngọn cây dương liễu trước chùa, chấp tay hướng
về Tây phương mà nguyện rằng: “Xin Phật tiếp
dẫn tôi, Bồ Tát giúp tôi chẳng mất chánh
niệm được sanh về Cực Lạc”.
Nguyện xong ngài tự gieo ḿnh xuống. Thân nhẹ nhàng rơi, và tự nhiên
ngồi kiết già ngay thẳng trên mặt đất.
Đại chúng vội chạy đến, thời ngài đă tịch
rồi.





Một truyện văng sanh do sức trợ niệm, chứng
thật lời Tổ.
DƯƠNG LIÊN HÀNG
Trích
ở bộ: “Cận Đại Văng Sanh Truyện”
Ông Dương Liên Hàng người Triết Giang. Nhà
nghèo, thuở trẻ làm nghề buôn bán.
Năm Dân Quốc thứ II, ông thường tới lui
nghiên cứu Phật lư với Giác Hàng cư sĩ, dầu
văn học của ông cạn ít, nhưng chỗ giải ngộ
th́ hơn người.
Tháng chín năm Quí Hợi, các đạo hữu trong
hội Niệm Phật tại làng đồng nhau làm lễ
tuyên thệ “Phát Bồ Đề Tâm”. Ông Liên
Hàng liền xin dự hội và đồng tuyên thệ.
Năm Giáp Tư, cuối mùa xuân, nhơn bịnh, ông
bèn lén phá giới bất sát, từ đó xa lần các
đạo hữu.
Đêm tháng 7, bịnh ông thêm nặng. Các đạo hữu
đến thăm và có lời răn nhắc ông. Riêng phần
ông cũng tự biết không thể mạnh được, nên
ông hết sức ăn năn. Ngày mùng 8 tháng 7, ông
gượng bịnh đến trước Phật chí thành phát lộ,
gieo ḿnh sám hối, thệ chẳng lại dám phạm
giới nữa. Từ giờ đó trở đi bỏ hết các việc,
dứt trừ ái dục, chí tâm niệm Phật chờ chết.
Các đạo hữu biết ông công phu niệm Phật kém,
nên đến ngày 11, thỉnh người đến nhà trợ
niệm cho ông. Ngày rằm, các đạo hữu tự luân
phiên đến trợ niệm, cũng từ ngày rằm này,
tinh thần của ông lần lần thanh sảng, thân
thể khỏe khoắn.
Đến ngày 17, ông bảo mọi người rằng trong
giấc mộng ông thấy quang minh như năm sáu
ngọn đèn điện. Chiều tối, thấy ông vẫn tươi
tỉnh như thường, các đạo hữu cho rằng ông
chưa sao. Nên sau một thời to tiếng niệm
Phật, các đạo hữu sắp sửa về nhà nghĩ. Nào
ngờ lúc ấy trợ niệm đă đắc lực. Ông nghe yên
lặng, bèn kêu nói: “Tôi c̣n chưa được đến
Tây Phương, cần phải nhờ chư đạo hữu trợ
niệm suốt đêm nay”.
Mọi người nghe ông nói có ư lạ, nên cùng
nhau to tiếng niệm Phật. Được nữa giờ, ông
bỗng cười và nói rằng: “Tôi đă đến Cực lạc.
Ôi! Hoa sen đẹp quá! Ôi! Ao báu rộng lớn
quá! Quang minh sáng đẹp quá!”. Rồi ông lại
căn dặn mọi người gắng trợ niệm cho ông. Từ
giờ này trở đi, ông nằm yên không cựa động,
hai mắt chăm nh́n tượng Phật cúng trên bàn
trước giường nằm. Đến sáng sớm ngày 18, hai
mắt ông mới nhắm lần, hơi thở cũng măn.
Các đạo hữu chỉ có 4 người, mà trọn đêm trợ
niệm không dứt tiếng, niệm đến sau khi ông
hết thở một giờ rưỡi, mới gọi người khác
niệm thay và không cho thân quyến than khóc.
Đến mười giờ trưa, mọi người cùng khám thây
ông, tất cả chỗ đều lạnh. Chỉ trên đỉnh đầu
c̣n ấm nóng.
Ông Dương Liên Hàng được văng sanh, toàn nhờ
sức trợ niệm của các đạo hữu. Năm đó ông
được 30 tuổi.
LỜI PHỤ:
- Ông Liên Hàng, công phu niệm Phật kém mà
lại phá giới “bất sát”, nhờ các đạo hữu tận
lực trợ niệm nên được chánh niệm hiện tiền
mà văng sanh. Ông văng sanh có 2 điều chứng
nghiệm: 1- Măi đến đứt thở mà chánh niệm vẫn
vững. 2- Cả thân đều lạnh, chỉ đỉnh đầu c̣n
nóng. Phàm người sau khi chết mà đỉnh đầu
nóng sau cùng, đó là triệu chứng được siêu
phàm nhập Thánh. Người văng sanh Cực Lạc
liền dự hàng Thánh, trụ bực “bất thối
chuyển”, thoát hẳn ṿng sanh tử luân hồi,
nên đỉnh đầu nóng sau cùng.
Tại sao sự trợ niệm có đại lực như thế?
V́
mọi người, ngoài xác thân tứ đại, ai cũng có
một thức thần, tức là tánh hiểu biết. Tánh
hiểu biết ấy là công dụng của tự tâm thể (đệ
bát thức) Tâm thể này gồm đủ cả năng lực của
mọi công dụng, và nó tùy theo duyên nhiễm
tịnh, thiện ác mà hiện ra thân và cảnh của
tất cả Thánh phàm. Lúc sắp chết, là lúc công
dụng hiện ra thân hiện tại đây sắp măn, và
cũng là lúc một năng lực khác sẽ theo trợ
duyên để trở nên công dụng kết thành một
thân tương lai.
Nhờ sức trợ niệm mạnh, nên mặc dầu người sắp
chết, sanh b́nh thánh nghiệp chưa thành, mà
năng lực siêu phàm sẵn có, nơi tự tâm liền
theo duyên chánh niệm mà thành công dụng kết
nên thân cảnh thanh tịnh: chánh báo và y báo
ở Cực Lạc.
Kết quả tốt đẹp này do 2 điều:
A- Trợ duyên.
B- Chánh nhơn.
|
Trợ duyên
{ |
1-
Dứt bặt tất cả sự bận ḷng
như việc gia đ́nh sự nghiệp, quyến
thuộc khóc than v.v…
2-
Người trợ niệm phải chí
thành tận tâm đúng pháp.
|
|
Chánh nhơn
{ |
1-
Người sắp chết phải quên tất
cả việc đời.
2- Phải nhứt tâm tha thiết nhớ Phật,
niệm Phật, như trẻ thơ rớt hố sâu,
mong mẹ đến cứu. |
Phần trợ duyên thứ 1 để giúp nên chánh nhơn
thứ 1, v́ có dứt
tất cả sự bận ḷng thời nơi người sắp chết mới có thể quên tất cả sự
đời được.
Phần trợ duyên thứ 2 để giúp nên chánh nhơn
thứ 2, v́ người trợ niệm có tận thành đúng
pháp, thời nơi người sắp chết mới có thể
phát khởi chánh niệm được.
Người sắp chết, nếu được đầy đủ trợ duyên và
chánh nhơn đây thời quyết định văng sanh,
không luận là người tu lâu hay kẻ mới quy
tín, cũng không luận người lành hay kẻ dữ.
Ở
tập sau của bộ này, ta sẽ được thấy nhiều
chứng nghiệm nơi lược sử của tứ chúng văng
sanh.