|
 |
HUỆ VIỄN ĐẠI SƯ
Trích ở các bộ:
“Đông Lâm Truyện”
“Lô Sơn Tập”
Huệ Viễn Đại Sư
họ Cổ, người Nhạn Môn. Lúc thơ ấu, bẩm tánh ngài
rất hiếu học, đă thông Nho điển lại rất giỏi về
học thuyết Lăo, Trang.
Bấy giờ Đạo An Pháp Sư lập chùa ở Hằng Sơn, vân
tập Tăng chúng thuyết pháp. Ngài nghe tiếng mến
đức, bèn đến Hằng Sơn quy y với Pháp Sư.
Khi nghe Đạo An Pháp
Sư giảng kinh Bát Nhă, tâm trí ngài mở thông tỏ ngộ
diệu lư. Ngài bèn than rằng: “Nào ngờ Phật thừa thâm
diệu! Mấy lâu nay uổng công ta đeo đuổi theo bă rác
Khổng, Mạnh, Lăo, Trang!
|
Rồi ngài xin xuất gia, pháp hiệu Huệ - Viễn. Từ đó trở đi, ngài liền
đêm, ngày chuyên tâm đọc tụng, tư duy, tu tập. Đạo
An Pháp sư thấy ngài chuyên cần nên khen rằng: “Phật
pháp sẽ được lưu hành ở Trung Đông tất do nơi Huệ
Viễn nầy vậy”.
Năm Thái Ngươn thứ 6, nhà Tấn, đến Tầm Dương thấy cảnh núi Lô Sơn
rộng răi tĩnh mịch, phải nơi hành đạo, ngài bèn lập
tịnh xá ở đó, hiệu là Long Tuyền
.
Lúc đó Pháp Sư Huệ Vĩnh bạn đồng sư của ngài, đă lập chùa Tây Lâm ở
phía Lô Sơn mời ngài cùng về ở Tây Lâm tự.
Được ít lâu, học chúng theo ngài quá đông, chùa Tây Lâm không đủ
chỗ, ư ngài muốn lập cảnh khác ở phía đông Lô Sơn.
Sơn Thần, đến xin cúng cây gỗ. Rồi sau một đêm mưa
to gió lớn, cây gỗ chồng chất ngổn ngang. Quan Thứ
Sử Hoàn Y phát tâm dựng ṭng lâm cho ngài. V́ Sơn
Thần dưng gỗ và đối với Tây Lâm tự, nên để hiệu là
“Đông Lâm Thần Vận tự”.
Khi nơi chốn đă yên, ngài liền đốc suất đại chúng hành đạo, đào ao
trồng sen. Trên mặt nước thả bông sen gỗ 12 cánh. Cứ
mỗi giờ là nước ngập một cánh, dùng định giờ hành
đạo. Gọi là Liên Lậu.
Lần lần những nhà đại trí thức mộ đạo ở bốn phương, như Giác Hiền,
Phật Đà Gia Xá, Lưu Di Dân, Vương Kiều Chi v.v… nghe
tiếng ngài nên đến xin dự chúng tu tập được 123
người, Ngài bảo: “Quư vị đến chốn nầy phải chăng là
người quyết chí nơi Tịnh độ ư?”. Ngài bèn tạo tượng
Di Đà, Quan Âm, Thế Chí. Lập hội Liên Xă, bảo ông
Lưu Di Dân làm bài văn phát nguyện khắc vào bia đá.
Người dự hội đều tinh tấn hành đạo, ngày đêm sáu
thời không trễ, lần lượt đều chứng tam muội, đều
được văng sanh. Lúc lâm chung đều có thoại ứng cả.
Ngài từng có lời phát huy ư nghĩa tam muội:
-
Gọi tam
muội đó là chi? Tức là “chuyên tư tịch tưởng”
vậy.
-
“Chuyên
tư” thời tâm trụ nơi nhứt. “Tưởng tịch”
thời khí rỗng thần sáng. Khí rỗng thời trí
ngộ nơi lư. Thần sáng thời không chỗ kín nào
mà chẳng thấu.
Lại các môn tam muội rất nhiều, nhưng dễ được mà công lại cao, thời
duy có niệm Phật tam muội là hơn hết. V́ cùng
nơi “huyền”, tột nơi tịch mà tôn hiệu
“Như Lai”. “Thể hiệp”, “Thần biến”
không chi sánh bằng. V́ thế nên người nhập tam muội
nầy, tâm thần vắng bặt vong sở tri. Chính nơi
cảnh sở duyên đó mà thành Trí huệ. Trí huệ
sáng thời chiếu suốt nơi trong mà vạn tượng
hiện bày rơ ràng vậy. Chỗ tai mắt không đến được mà
vẫn thấy vẫn nghe. Vẫn thấy vẫn nghe mà tâm thần vẫn
vắng bặt, vắng bặt mà tự nhiên trong sáng. Do trong
sáng nên khi tham cứu bổn tâm, t́nh trệ liền dung
lăng…
Ngài thấy ở Giang Đông kinh tạng thiếu nhiều, nên sai các đệ tử băng
núi vượt rừng, đến Tây Thiên thỉnh kinh. Các kinh
luật lưu hành từ Lô Sơn gần đến trăm thứ.
Ngài có trứ tác bộ “Pháp Tánh Luận” pháp minh chỉ thú Niết bàn
thường trụ. Bộ luận nầy truyền đến Quang Trung. Pháp
Sư Cưu Ma La Thập được xem, liền khen rằng: “Ông
Viễn ở biên phương chưa đọc “Đại Niết Bàn Kinh”, mà
lời luận lại hiệp với lư”.
Ngài trụ Lô Sơn hơn 30 năm, mà trọn không bước chân xuống núi lần
nào. Ngày như đêm, ngài chuyên để tâm nơi Tịnh độ,
lặng ḷng quán tưởng.
Đă ba phen thấy Phật và Thánh Chúng hiện thân, mà ngài trầm hậu
không nói ra.
Năm Nghĩa Hy thứ 12, đêm 30 tháng bảy, ngài ngồi nhập định nơi Bát
Nhă đài. Lúc vừa xuất định mở mắt ra, thấy đức A Di
Đà Phật hiện thân nơi hư không với vô lượng Thánh
Chúng. Trong viên quang có vô số Hóa Phật. Quan Thế
Âm Bồ Tát hầu bên tả, Đại Thế Chí Bồ Tát hầu bên
hữu. Phật và Bồ Tát đều ngự trên ṭa sen báu đẹp
sáng. Mười bốn tia sáng quanh lộn lên xuống như ṿi
nước, vang ra tiếng diễn nói những pháp: Khổ, Không,
Vô Thường, Vô Ngă, các môn Ba La Mật…”
Đức Phật bảo ngài rằng: “V́ bổn nguyện lực nên nay ta đến an ủi ông,
sau bảy ngày ông sẽ sanh về nước của ta”.
Ngài lại thấy những hội hữu trong Liên Xă đă tịch trước, như các
ông: Phật Đà Gia Xá, Huệ Tŕ, Huệ Vĩnh, Lưu Di Dân
v.v… đều đứng phía sau Phật. Các ông ấy bước đến
trước chấp tay chào ngài mà nói với ngài rằng: “Đại
Sư sớm phát tâm về Tịnh độ, sao lại muộn đến ngày
nay?”.
Hôm sau, ngài thuật lại với các đệ tử: Pháp Tịnh, Huệ Bửu v.v… và
bảo rằng: “Ta ở Lô Sơn này, trong 11 năm đầu, ba lần
thấy Phật và Thánh Chúng hiện thân. Nay lại thấy
Phật thọ kư. Chắc chắn ta sẽ được sanh về Tịnh Độ”.
Rồi ngài tự soạn quy chế để cho đại chúng y theo mà cùng ở cùng tu.
Đến ngày mùng 6 tháng tám, ngài cáo biệt đại chúng, rồi đoan tọa mà
viên tịch, thọ 83 tuổi.