|
Sau Đại Sư đến Mậu Sơn lễ tháp thờ xá
lợi của Phật. Nhằm ngày kỷ niệm Phật
nhập niết bàn, Đại Sư hội hiệp Tăng, Tục
sắm sửa lễ cúng dường rồi ở trước Phật,
ngài tự đốt ngón tay và phát 48 đại
nguyện. Lúc Đại Sư phát nguyện, cảm xá
lợi phóng quang.
Đại Sư có soạn văn “Phát Bồ Đề Tâm” để
khuyến khích tứ chúng. Nhiều người tụng
đến văn này mà rơi nước mắt.
Văn rằng:
-
Trong kinh dạy: “Yếu môn nhập đạo,
phát tâm làm trước. Yếu vụ tu hành, lập
nguyện làm đầu”.
Phát tâm thời Phật đạo có thể thành. Lập nguyện thời chúng
sanh có thể độ. Nếu chẳng phát tâm rộng
lớn cùng không lập nguyện kiên cố, thời
dầu trải qua vô lượng kiếp, cũng vẫn y
nhiên ở trong vòng luân hồi. Dầu có tu
hành cũng đều luống khổ nhọc thôi.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Quên mất bồ đề
tâm mà tu các pháp lành đó gọi là nghiệp
ma”.
Quên mất còn là nghiệp ma, huống là chưa
từng phát ư! Do đó mà biết rằng: phàm
muốn học Phật đạo, quyết phải phát bồ đề
tâm, không được trì huỡn.
Nhưng tâm nguyện có nhiều tánh khác
nhau, nay tôi vì đại chúng mà lược giải
tám cách: “tà, chánh, chơn, ngụy,
đại, tiểu, thiên, viên”.
1-
Trong đời có người tu hành chẳng tham
cứu tự tâm, chỉ biết việc ngoài: hoặc
cầu tài lợi hoặc ưa danh tiếng, hoặc ham
vui sướng hiện đời, hoặc trông quả báo
tương lai. Phát tâm như thế gọi là
“tà”.
2-
Còn người tu hành mà chẳng cầu danh lợi,
chẳng
tham sung sướng,
chẳng trông quả báo, chỉ vì thoát ly sanh tử, chỉ vì thành
đạo bồ đề, đây gọi là “chánh”.
3-
Niệm niệm trên cầu Phật đạo, tâm tâm
dưới độ quần sanh, xem Phật đạo dài lâu
mà lòng không khiếp, thấy chúng sanh khó
độ mà chí chẳng sờn, như lên núi quyết
đến đỉnh, như trèo tháp quyết đến chót.
Phát tâm như đây gọi là “chơn”.
4-
Có tội không sám hối, có lỗi chẳng chịu
chừa, ngoài thời coi như trong sạch mà
trong tâm nhớp nhúa, trước tinh tấn sau
biếng lười, dầu cũng có tâm tốt, nhưng
xen lộn danh cùng lợi, dầu có pháp lành
song bị tội nghiệp làm nhiễm ô, đó gọi
là “ngụy” (dối).
5-
Chúng sanh giới tận, nguyện của tôi mới
tận, đạo bồ đề thành, nguyện của tôi mới
thành. Phát tâm như vậy gọi là “đại”.
6-
Xem tam giới như ngục tù, coi sanh tử
như oan gia, chỉ mong riêng mình mau
giải thoát mà chẳng muốn độ người đây
gọi là
“tiểu”.
7-
Nếu có quan niệm rằng chúng sanh và Phật
đạo ở ngoài tự tâm, rồi nguyện độ nguyện
thành, chẳng quên công huân chẳng dứt
tri kiến. Phát tâm như thế gọi là
“thiên” (lệch).
8-
Biết tự tánh là chúng sanh nên nguyện
độ, rõ tự tánh là Phật đạo nên nguyện
thành. Chẳng thấy có một pháp nào ở
ngoài tự tâm, rồi dùng tâm rỗng trống,
phát nguyện rỗng trống, thực hành hạnh
rỗng rang chứng quả rỗng rang, cũng
không còn có thấy tướng rỗng rang
đây gọi là “viên”.
Tám cách phát tâm đã rành rẽ, thời nên
tự xét kỷ coi mình phát tâm thuộc tánh
cách nào: là tà hay ngụy ư
? Là chánh là chơn ư? Là
đại là tiểu ư? Là thiên
là viên ư?
Nếu nhận thấy là tà là ngụy
là tiểu là thiên, thời lập
tức sửa đổi. Nếu xét mình là chánh
là chơn là đại là viên,
thời bền chắc thêm lên. Được như vậy mới
là “chơn chánh phát bồ đề tâm”.
Bồ đề tâm này là vua trong các pháp
lành, nhờ mười nhơn duyên mà phát khởi:
1-
Vì nghĩ đến ơn Phật
- Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật của
ta, từ lúc tối sơ phát tâm, vì chúng ta
mà hành bồ tát đạo, trong vô lượng kiếp
chịu đủ sự khốn khổ. Như kinh Pháp Hoa
nói: “Khắp cõi đại thiên không có chỗ
nào chừng bằng hột cải mà chẳng phải là
chỗ đức Phật xả thân mạng vì chúng
sanh”.
Lúc ta tạo nghiệp Phật xót thương dạy
dỗ, ngặt vì ta quá ngu si không biết
nghe theo. Rồi ta đọa ác đạo, Phật càng
xót thương muốn chịu khổ thay ta, nhưng
ta vì nghiệp quá nặng không cứu vớt
được.
Ta sanh làm người, Phật tìm cách cho ta
trồng căn lành, Kiếp kiếp đời đời lòng
Phật theo dõi ta, không lúc nào rời.
Khi Phật xuất thế ta còn trầm luân, nay
đặng làm người Phật đã diệt độ. Tội chi
mà sanh nhằm thời mạt pháp! Phước gì mà
đặng xen dự chúng Tăng! Chướng chi mà
chẳng thấy thân vàng! May gì mà đặng gặp
cốt tượng!
Rồi tự nghĩ như vầy: nếu đời trước ta
không từng trồng căn lành, thời do đâu
mà nay được nghe Phật pháp, thời đâu
biết là thường thọ ơn của Phật. Ơn đức
ấy, núi cao khó sánh. Nếu ta không phát
tâm hành bồ tát đạo giữ vững Phật pháp
cứu độ chúng sanh, thời dầu có tan xương
nát thịt cũng không đền đặng.
2-
Vì nhớ ơn cha mẹ.
– Than ôi cha mẹ sanh ta khó nhọc! Mười
tháng mang nặng, ba năm bú mớm, ta mới
nên người. Ngỡ là ta nối nắm dòng họ,
thừa tự tổ tiên. Dè đâu ta đã xuất gia
lấy danh Thích Tử. Không dưng cơm nước,
chẳng đỡ tay chân.
Cha mẹ còn, ta không nuôi dưỡng thân
người. Cha mẹ mất, ta không dắt dìu thần
thức. Như vậy với đời là sự tổn lớn, với
đạo lại không thiệt ích. Phải chăng đó
là một tội nặng!
Rồi tự nghĩ như vầy: từ đây trăm kiếp
nghìn đời ta phải thực hành Phật đạo.
Thập phương tam thế ta luôn cứu khắp
chúng sanh. Thế thời chẳng chỉ cha mẹ
trong đời hiện tại của riêng ta, mà đa
sanh phụ mẫu của ta và của mọi người đều
do ta mà đặng siêu thăng. Như vậy mới
đền ơn sanh thành dưỡng dục được.
3-
Vì tưởng ơn Sư trưởng
– Không thế gian Sư trưởng thời ta không
biết lễ nghĩa. Không xuất thế Sư trưởng
thời ta không hiểu Phật pháp. Không biết
lễ nghĩa thời khác gì cầm thú. Không
hiểu Phật pháp thời nào khác kẻ tục. Nay
ta biết chút ít lễ nghĩa, hiểu đôi phần
Phật pháp, ca sa che vóc, giới phẩm
nhuận thân, đây là do Sư trưởng mà đặng.
Rồi tự nghĩ: nay ta thực hành đại thừa,
nguyện đem sự lợi ích lớn lại cho tất
cả, nối chí Sư trưởng, mà cũng là thêm
lớn công đức của Sư trưởng. Như thế, mới
gọi là biết ơn Sư trưởng.
4-
Vì nghĩ ơn thí chủ
- Đồ dùng hằng này đều không phải của
mình: hai bữa cháo cơm, bốn mùa y áo,
thuốc men khi bịnh, giường ghế khi mỏi…
đều của người sắm cho.
Người thời hết sức cày bừa còn khó đủ
ăn, ta thời ngồi an thọ thực vẫn chưa
vừa lòng! Người thời dệt may chẳng nghĩ
còn phải thiếu rách, ta thời y áo có
thừa mà không biết giữ gìn! Người thời
nhà lá vách phên, bận rộn trọn đời, ta
thời đền rộng nóc cao thong thả mãn năm.
Dùng sự khổ nhọc của người để cung cấp
sự an nhàn cho ta, như vậy, nơi lòng
chừng có an được chăng? Dùng tài lợi của
người để nuôi thân mình, như vậy có
thuận lẽ phải cùng chăng?
Rồi tự nghĩ: Nếu ta không lo song vận bi
trí, gồm tu phước huệ, để đàn tín được
nhờ, chúng sanh được độ, thời tấc vải
hột cơm có ngày phải trả, địa ngục ngạ
quỷ có lúc phải sa. Ta phải kiên cố bồ
đề tâm mới đặng.
5-
Vì biết ơn chúng sanh
– Ta cùng chúng sanh từ vô thỉ đến nay
làm quyến thuộc lẫn nhau, đây kia đều có
ơn nghĩa với nhau. Nay dầu cách đời đổi
thân, hôn mê không nhớ biết, song cứ lý
mà xét thời không thể không đền đáp.
Hiện tại con vật mang lông đội sừng kia,
biết đâu rằng từ trước ta đã từng làm
con của nó. Loài giun, dế, bướm, ong đó,
biết đâu rằng là thân sinh đời trước của
ta. Đến những ai rên siết trong địa
ngục, kêu gào nơi ngạ quỷ. Ta dầu không
thấy không nghe mà họ tất cầu cứu cầu
tế. Ngoài kinh thời không đâu bày rõ
việc này được, ngoài Phật thời không ai
nói rành việc đó được. Vì thế nên Bồ Tát
xem kiến rận đều là quá khứ phụ mẫu, thú
cầm đều là chư Phật vị lai, nên thường
lo cứu độ, luôn nghĩ báo ơn.
6-
Vì tưởng khổ sanh tử
- Ta cùng mọi người từ nhiều kiếp đến
ngày nay luôn ở trong biển sanh tử: lúc
làm Trời, lúc làm người, hoặc cõi này
hay thế giới khác, chết đây sanh kia,
thoạt lên thoạt xuống. Ngạ quỷ sớm đi mà
chiều lại; địa ngục nay ra mà mai vào.
Đao sơn kiếm thọ đứt nát thân hình; đồng
sôi sắt đỏ cháy rã tâm can; khóc la
trong lửa, rên rỉ trong băng. Muôn lần
sống chết nội ngày đêm, giây lát khổ đau
bằng thế kỷ. Đương lúc đó dầu biết khổ,
nhưng ăn năn sao kịp, sau khi thoát khỏi
liền quên vẫn tạo tội như thường. Tâm
không hằng, như lữ khách ruỗi dong, thân
không định, dường cửa nhà thay đổi. Cát
bụi cũng không tính được số thân đã thọ,
nước biển vẫn không nhiều bằng giọt chia
ly. Nếu không lời Phật, việc này ai thấy
ai nghe. Nếu chẳng xem kinh, lý đó đâu
hay đâu biết. Nhược bằng đời này cứ tham
ái như cũ, vẫn si mê như trước, e rằng
muôn kiếp nghìn đời lạc lầm mãi mãi.
Thân người khó được mà dễ chết mất, giờ
tốt dễ qua mà khó trở lại, chẳng may,
sau này phải sa vào ác đạo lại tự mang
lấy khổ, bấy giờ ai thế được cho! Nên ta
phải dứt lòng sanh tử, diệt biển dục
tình, độ mình độ người đồng lên bờ giác,
quan hệ tại một đời này, không thể bê
trễ được.
7-
Vì tôn trọng tâm linh
– Tâm tánh của ta cùng Thích Ca Như Lai
không hai không khác. Tại sao đức Bổn Sư
đã thành Phật sáng suốt tự tại, mà ta
vẫn còn làm phàm phu hôn mê điên đảo?
Đức Bổn Sư đủ vô lượng thần thông trí
huệ, vô lượng công đức trang nghiêm tự
tại giải thoát, mà ta chỉ có vô lượng
nghiệp hệ vô minh, vô lượng phiền não ô
trược sanh tử khổ sở!
Tâm tánh đồng một, mà vì mê với ngộ nên khác nhau như trời với vực.
Ví như vô giá bửu châu vùi dưới sình
lầy, xem như đất đá. Nay ta phải dùng vô
lượng thiện pháp để đối trị phiền não,
tu đức công thành thời tánh đức mới hiển
bày. Như bửu châu được rửa sạch lau khô
để trên tràng cao liền phóng quang chiếu
sáng. Như vậy mới là không uổng công
giáo hóa của Phật và chẳng phụ tánh linh
của mình.
8-
Vì sám hối nghiệp chướng
– Kinh nói: “Phạm một tội kiết la, phải
đọa địa ngục, bằng tuổi thọ của Tứ Thiên
Vương”. Tội nhỏ còn bị báo khổ như vậy,
huống là tội trọng ư?
Nay ta mỗi ngày, một cử một động thường trái giới luật, lúc ăn lúc
uống luôn phạm thi la. Tính kỷ trong một
ngày cũng đã nhiều tội, huống là trọn
đời cho đến nhiều kiếp về trước kể sao
cho xiết. Cứ lấy ngũ giới mà thẩm xét
cũng chưa chắc tròn vẹn, huống là mười
giới, Cụ túc giới, Bồ Tát vô lượng giới
ư!
Nay ta phải hết lòng cầu ai sám hối thương mình thương người, thân
khẩu tha thiết, nước mắt theo lời mà
tuôn ra, mới mong tội được tiêu, khổ
được thoát.
9-
Vì cầu sanh Tịnh độ
- Ở cõi ác trược
nầy tấn tu rất khó. Vãng sanh Cực lạc
thời thành Phật rất dễ. Vì khó nên nhiều
kiếp chưa nên, vì dễ mà một đời đắc quả.
Do cớ ấy, nên từ xưa chư Thánh chư Hiền
đều xa hướng Cực Lạc, muôn kinh nghìn
luận đều chỉ quy Tịnh Độ. Đời nay tu
hành, không pháp môn nào hơn pháp môn
này.
Trong kinh Di Đà nói: -“Ít thiện căn ít
phước đức không vãng sanh được”. - Thế
là nhiều thiện căn nhiều phước đức mới
được sanh. Nhiều phước đức không chi
bằng chấp trì danh hiệu, nhiều thiện
căn chẳng chi qua phát bồ đề tâm.
Niệm Phật giây lát hơn bố thí cả năm,
phát bồ đề tâm hơn tu hành nhiều kiếp.
Vả lại, niệm Phật cốt mong làm Phật, nếu
không phát bồ đề tâm thời niệm để làm
gì? Còn phát bồ đề tâm để được tấn tu,
nhưng không sanh Tịnh độ thời dễ thối,
dễ thất. Nên trong kinh có lời dụ:
-
Bồ Tát sơ phát tâm, với trứng cá và bông
yêm la, nhơn nhiều mà quả ít.
-
Gieo giống Bồ đề, vun quén bằng niệm
Phật, thời đạo quả tự nhiên tăng trưởng,
rồi nương thuyền đại nguyện của Phật
chắc chắn vãng sanh Tịnh độ. Đã được ở
Cực Lạc tức là trụ bực bất thối, từ đây,
phước trí nhị nghiêm nhiệm vận mà tăng
trưởng, viên mãn. Vì thế nên ta phải
nhất tâm cầu sanh Tịnh độ mới được.
10-
Vì hộ trì chánh pháp
- Đức Bổn Sư vì ta và tất cả mà tu Bồ
tát đạo trong vô lượng kiếp, làm những
việc khó làm, nhẫn những điều khó nhẫn.
Sau khi nhơn viên quả mãn thành Phật,
một đời tận tụy dìu dắt mọi người, cặn
kẽ chỉ dạy muôn loại. Khi cơ duyên giáo
hóa đã xong, đức Phật nhập niết bàn.
Chánh pháp đã qua, tượng phát đã hết,
nay chỉ còn mạt pháp: Có giáo pháp mà
không người đắc pháp. Tà chánh không
phân, phải quấy lẫn lộn. Cùng nhau cạnh
tranh nhơn ngã, chẳng vì lợi thời cầu
danh. Tam Bảo không còn thiệt nghĩa, suy
tàn tồi tệ không nỡ thốt lời. Nghĩ đến
đây khó cầm giọt lụy.
Ta là Phật tử mà không báo được ơn Phật,
trong thời tự mình chẳng được lợi ích,
ngoài thời vô ích với người. Sống không
lợi ích cho đương thời, chết vẫn vô ích
nơi tương lai. Suy nghĩ như vậy nên đau
lòng xót dạ vội phát đại tâm, cùng với
thiện lữ đồng đến đạo tràng tụng lời sám
hối, lập thành pháp hội. Phát 48 điều
nguyện, nguyện quyết độ sanh, nguyện
được thành Phật. Mãn báo thân này thệ về
Cực Lạc, để được lên chín phẩm, để được
dự thánh lưu, để được chứng vô sanh, để
được trụ bất thối.
Rồi nương thuyền bổn nguyện trở lại Ta
Bà làm cho Phật nhựt trùng huy, pháp
luân thường chuyển…
Tám cách và mười duyên đã biết đủ, thời
chỗ phát tâm xu hướng, đã có nẻo có
đường. Trông mong đại chúng lân mẫn lòng
chơn thành tha thiết của tôi, mà cùng
tôi đồng lập đại nguyện, đồng phát đại
tâm. Nếu chưa phát thời nay phát, nếu
phát rồi thời nay tăng trưởng, nếu đã
tăng trưởng thời làm cho được tương tục.
Chớ thấy khó mà khiếp sợ. Chớ thấy dễ mà
xem thường. Chớ dục tốc mà không bền.
Chớ giải đãi mà không được. Cũng đừng vì
dốt tối mà trọn không phát tâm, cũng
đừng vì trí cạn chướng dày mà tự hèn tự
bỏ. Ví như trồng cây, trồng lâu ngày
thời rễ cạn lần sau. Lại như mài dao,
mài bền thời lưỡi lụt lần bén. Đâu có lẽ
vì rễ cạn nông mà bỏ khô không trồng,
dao lụt để vậy cho thành đồ vô dụng!
Còn nếu cho tu hành cực khổ, thời chưa
biết rằng biếng lười càng khổ cực hơn.
Vì tu hành, dầu tạm thời cần lao nơi
hiện tại, nhưng rồi được vĩnh viễn an
lạc ở tương lai. Còn biếng lười trộm an
nhàn một đời nay, song rồi phải nhiều
đời khổ lụy.
Huống là dùng Tịnh độ làm châu hàng thời
lo gì thối chuyển, lại đặng vô
sanh làm nhẫn nhục sợ gì gian nan.
Chớ nói tâm niệm vô thường rồi không
phát, cũng đừng cho luống nguyện vô ích
mà không nguyện.
Phải biết tâm chơn thời quả thiệt,
nguyện lớn thời hạnh sâu. Hư không kia
không rộng lớn bằng tự tâm, kim cương nọ
không bền bằng nguyện lực.
Đại chúng nếu không chê bỏ lời tôi, thời
từ nay chúng ta là quyến thuộc bồ đề,
làm bạn lành Tịnh độ. Nguyện cùng nhau
đồng sanh Cực lạc đồng hầu Di Đà, đồng
độ chúng sanh đồng thành chánh giác.
Ít lúc sau, Đại Sư trụ chùa Tiên Lâm ở
Hàng Châu.
Năm Ủng Chánh thứ 7, Đại Sư lập Liên Xã
làm văn thệ giữ chúng, lấy trọn đời làm
hẹn. Chia ngày đêm làm 20 phần: 10 trì
danh, 9 phần quán tưởng, 1 phần lễ sám.
Có nhà tu thiền đến hỏi về chỉ thú niệm
Phật. Đại Sư khai thị: “Một câu A Di Đà
Phật là đầu tắc công án, không thương
lượng gì khác, thẳng liền quyết phán.
Như đống lửa lớn, nhảy vào liền cháy.
Như gươm Thái A, xuông đến thì dứt rời.
Tám muôn bốn nghìn pháp môn, không ngoài
sáu chữ. Một nghìn bảy trăm công án, một
câu đủ đoán. Mặc ai không ưa nghe Phật,
ta tự niệm niệm nhớ Phật. Xin ông bất
tất nhiều lời, chỉ nên nhất tâm bất
loạn”.
Năm Ủng Chánh thứ II, ngày mùng 8 tháng
chạp. Đại Sư bảo đại chúng rằng: “ Tháng
tư sang năm thời ta đi ”. Rồi Đại Sư
đóng cửa thất mỗi ngày niệm Phật mười
vạn câu.
Sang năm, ngày 12 tháng 4, Đại Sư nói
với các đệ tử rằng: “Từ đầu tháng tới
nay, tôi hai lần thấy Cực Lạc Tam Thánh.
Tôi sẽ vãng sanh!”. Rồi Đại Sư viết bài
kệ để từ biệt chúng.
Qua ngày kế, Đại Sư không ăn uống, cứ
nhắm mắt ngồi ngay thẳng. Đến canh năm,
Đại Sư tắm rửa thay y áo. Qua ngày sau
tức là ngày 14, gần giờ ngọ, Đại Sư quay
mặt về hướng Tây nhắm mắt yên lặng. Đại
chúng Tăng Tục các nơi hội về đông như
chợ. Đại Sư bỗng mở mắt nhìn mọi người
mà bảo rằng: “Tôi về Cực Lạc không bao
lâu tôi sẽ trở lại. Thoát ly sanh tử là
việc lớn, mọi người nên tự giữ lòng
thanh tịnh siêng niệm Phật là được”.
Dặn xong, Đại Sư chấp tay xướng to hồng
danh của Phật rồi tịch. Thọ bốn mươi
chín tuổi.
|